Trung Bộ Kinh · bài 132/152
Kinh Ānanda Một Đêm Lành
Ānandabhaddekaratta Sutta — bài kinh Ānanda giảng lại bài kệ về người có một đêm lành
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Ānanda Một Đêm Lành (Ānandabhaddekaratta Sutta) là bài kinh thứ 132 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Đây là bài thứ hai trong bốn bài kinh liên tiếp cùng xoay quanh một bài kệ ngắn về người có một đêm lành, gồm MN 131, MN 132, MN 133 và MN 134. Bốn bài không phải bốn dị bản của cùng một bài; mỗi bài đặt bài kệ ấy vào một hoàn cảnh khác nhau. Bài này có cách trình bày riêng: người giảng bài kệ không phải Đức Thế Tôn mà là Tôn giả Ānanda.
Bài kinh mở ra tại Sāvatthī, trong rừng Jeta. Buổi chiều, Đức Thế Tôn từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến giảng đường và hỏi các tỳ-kheo: ai đã giảng cho họ nghe phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành? Các tỳ-kheo thưa rằng đó là Tôn giả Ānanda. Ngài bèn hỏi Ānanda đã giảng thế nào, và Ānanda nhắc lại trọn bài giảng của mình, gồm bài kệ và lời giải thích từng câu kệ.
Nội dung bài kệ rất gọn. Đừng chạy về quá khứ, đừng mong đợi tương lai: cái đã qua thì đã bỏ lại, cái chưa tới thì chưa tới. Chỉ có những gì đang có mặt ngay lúc này là chỗ để thấy rõ. Và vì cái chết có thể đến ngay ngày mai, việc cần làm phải làm ngay hôm nay. Người sống như vậy, không mệt mỏi ngày đêm, được gọi là người có "một đêm lành".
Phần phân tích mới là chỗ bài kinh chạm vào đời sống thật. Quay về quá khứ không phải là nhớ chuyện cũ, mà là khơi dậy lòng thích thú nơi những gì mình đã từng là; mong đợi tương lai là ước mình sẽ có những thứ ấy về sau. Còn bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt là coi năm uẩn là tự ngã, hay coi tự ngã là có năm uẩn ấy, hay coi uẩn ấy ở trong tự ngã, hay coi tự ngã ở trong uẩn ấy. Năm uẩn là năm nhóm tạo nên cái ta gọi là "mình": sắc là thân và vật chất, thọ là cảm giác, tưởng là nhận biết và ghi nhớ, hành là các ý muốn và quyết định, thức là sự nhận biết. Vị thánh đệ tử đã nghe Pháp thì không làm như vậy.
Điều đáng chú ý là nửa sau bài kinh. Đức Thế Tôn tán thán Ānanda rồi lặp lại toàn bộ bài kệ và phần phân tích, chỉ đổi cách xưng gọi. Người đọc hôm nay có thể thấy lạ vì sao một bài kinh lại lặp y nguyên như thế, nhưng chính sự lặp lại ấy là cách kinh điển Pali xác nhận một lời dạy: điều Ānanda nói đã được Đức Thế Tôn nói lại đúng như vậy, nên đó là lời dạy của Ngài chứ không phải ý riêng của một đệ tử.
Bản dịch này làm từ nguyên bản Pali, đối chiếu với bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato. Những chỗ Pali viết tắt bằng dấu lược đều được viết đủ lại theo đúng khuôn, để người đọc thấy rõ bài kinh lặp lại bài kệ và năm uẩn như thế nào. Các từ kỹ thuật như sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tự ngã được giữ theo cách gọi quen thuộc trong kinh điển Việt Nam.
[Chú thích của người dịch: Bhaddekaratta là một hợp từ khó, thường được hiểu là "một đêm lành" hay "người có một đêm lành", tức người sống trọn vẹn đêm nay, không để nó trôi qua trong tiếc nuối quá khứ hay mong chờ tương lai. Bốn bài kinh liên tiếp trong Trung Bộ Kinh (MN 131 đến MN 134) cùng xoay quanh một bài kệ, và đây là bài thứ hai.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda (A-nan) đang chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại, giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn từ chỗ độc cư đứng dậy, đi đến giảng đường. Đến nơi, Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, ai đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành?"
"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ānanda đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành."
Rồi Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda:
"Này Ānanda, ông đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành như thế nào?"
Bạch Thế Tôn, con đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành như vầy:
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
[Chú thích của người dịch: "Mong đợi" (paṭikaṅkhe) ở đây không có nghĩa là mọi sự chờ đợi đều xấu; điều bài kệ nhắm tới là sự chờ đợi phát xuất từ lòng tham, mong các uẩn của mình trong tương lai được như ý. Phần phân tích ngay dưới sẽ nói rõ nghĩa ấy.]
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Và này các hiền giả, thế nào là quay về với quá khứ?
[Chú thích: Từ đây, Ānanda lặp lại phần phân tích y như trong bài kinh trước, MN 131.]
Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này các hiền giả, đó là cách quay về với quá khứ.
Và này các hiền giả, thế nào là không quay về với quá khứ?
Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này các hiền giả, đó là cách không quay về với quá khứ.
Và này các hiền giả, thế nào là mong đợi tương lai?
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này các hiền giả, đó là cách mong đợi tương lai.
Và này các hiền giả, thế nào là không mong đợi tương lai?
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này các hiền giả, đó là cách không mong đợi tương lai.
Và này các hiền giả, thế nào là bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?
Ở đây, này các hiền giả, kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.
Vị ấy coi sắc là tự ngã, coi tự ngã là có sắc, coi sắc ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong sắc;
[Chú thích của người dịch: Năm uẩn là năm nhóm tạo nên cái ta gọi là "tôi": sắc (thân và vật chất), thọ (cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính), tưởng (nhận biết và ghi nhớ), hành (các ý muốn và quyết định), thức (sự nhận biết qua giác quan và tâm). Bốn cách nhìn trong đoạn này là bốn kiểu đồng nhất mình với uẩn ấy.]
Vị ấy coi thọ là tự ngã, coi tự ngã là có thọ, coi thọ ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thọ;
Vị ấy coi tưởng là tự ngã, coi tự ngã là có tưởng, coi tưởng ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong tưởng;
Vị ấy coi hành là tự ngã, coi tự ngã là có hành, coi hành ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong hành;
Vị ấy coi thức là tự ngã, coi tự ngã là có thức, coi thức ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thức.
Này các hiền giả, đó là cách bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Và này các hiền giả, thế nào là không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt?
Ở đây, này các hiền giả, vị thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.
Vị ấy không coi sắc là tự ngã, không coi tự ngã là có sắc, không coi sắc ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong sắc;
Vị ấy không coi thọ là tự ngã, không coi tự ngã là có thọ, không coi thọ ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thọ;
Vị ấy không coi tưởng là tự ngã, không coi tự ngã là có tưởng, không coi tưởng ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong tưởng;
Vị ấy không coi hành là tự ngã, không coi tự ngã là có hành, không coi hành ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong hành;
Vị ấy không coi thức là tự ngã, không coi tự ngã là có thức, không coi thức ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thức.
Này các hiền giả, đó là cách không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai.
Cái gì đã qua thì đã bỏ lại,
tương lai thì chưa tới;
và pháp nào đang có mặt,
thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ;
cái không lay chuyển, không dao động:
biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó.
Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm,
ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai?
Vì chẳng có sự mặc cả nào
với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó.
Ai sống như vậy, tinh cần,
không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Bạch Thế Tôn, đó là cách con đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành.
"Lành thay, lành thay, này Ānanda!
Thật lành thay, này Ānanda, ông đã chỉ dẫn, khuyến khích, sách tấn và làm cho hoan hỷ các tỳ-kheo bằng một bài pháp thoại, đã giảng phần tóm tắt và phần phân tích về người có một đêm lành."
[Chú thích của người dịch: Từ đây, Đức Thế Tôn lặp lại trọn vẹn bài kệ rồi đến phần phân tích, chỉ đổi cách gọi các tỳ-kheo thành cách gọi Ānanda. Pali ghi phần lặp lại này bằng lối lược đoạn; ở đây viết đủ từng câu.]
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Này Ānanda, thế nào là quay về với quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này Ānanda, đó là cách quay về với quá khứ.
Này Ānanda, thế nào là không quay về với quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Trong quá khứ, ta đã có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này Ānanda, đó là cách không quay về với quá khứ.
Này Ānanda, thế nào là mong đợi tương lai? Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" và khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này Ānanda, đó là cách mong đợi tương lai.
Này Ānanda, thế nào là không mong đợi tương lai? Vị ấy nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có sắc như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thọ như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có tưởng như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có hành như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó; nghĩ: "Ước gì trong tương lai ta có thức như thế này" nhưng không khơi dậy lòng thích thú ở đó.
Này Ānanda, đó là cách không mong đợi tương lai.
Này Ānanda, thế nào là bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt? Ở đây, này Ānanda, kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết và không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân. Vị ấy coi sắc là tự ngã, coi tự ngã là có sắc, coi sắc ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong sắc; vị ấy coi thọ là tự ngã, coi tự ngã là có thọ, coi thọ ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thọ; vị ấy coi tưởng là tự ngã, coi tự ngã là có tưởng, coi tưởng ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong tưởng; vị ấy coi hành là tự ngã, coi tự ngã là có hành, coi hành ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong hành; vị ấy coi thức là tự ngã, coi tự ngã là có thức, coi thức ở trong tự ngã, hoặc coi tự ngã ở trong thức.
Này Ānanda, đó là cách bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
Này Ānanda, thế nào là không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt? Ở đây, này Ānanda, vị thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, hiểu biết và khéo được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân. Vị ấy không coi sắc là tự ngã, không coi tự ngã là có sắc, không coi sắc ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong sắc; vị ấy không coi thọ là tự ngã, không coi tự ngã là có thọ, không coi thọ ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thọ; vị ấy không coi tưởng là tự ngã, không coi tự ngã là có tưởng, không coi tưởng ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong tưởng; vị ấy không coi hành là tự ngã, không coi tự ngã là có hành, không coi hành ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong hành; vị ấy không coi thức là tự ngã, không coi tự ngã là có thức, không coi thức ở trong tự ngã, cũng không coi tự ngã ở trong thức.
Này Ānanda, đó là cách không bị lay chuyển giữa các pháp đang có mặt.
"Chớ có quay về với quá khứ,
chớ có mong đợi tương lai. Cái gì đã qua thì đã bỏ lại, tương lai thì chưa tới; và pháp nào đang có mặt, thì thấy rõ ở từng chỗ, từng chỗ; cái không lay chuyển, không dao động: biết rõ điều ấy, hãy vun bồi nó. Ngay hôm nay, hãy tinh cần làm việc cần làm, ai mà biết cái chết có đến vào ngày mai? Vì chẳng có sự mặc cả nào với thần Chết cùng đạo quân hùng hậu của nó. Ai sống như vậy, tinh cần, không mệt mỏi cả ngày lẫn đêm,
người ấy thật được gọi là người có một đêm lành —
bậc hiền triết an tịnh ấy tuyên bố như vậy."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Ānanda Một Đêm Lành, bài thứ hai, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.