buppou

Trung Bộ Kinh · bài 124/152

Kinh Bākula

Bākula Sutta — bài kinh về Tôn giả Bākula

16 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Bākula (Bākula Sutta) là bài thứ 124 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), tập 152 bài giảng trong Kinh tạng Pali. Bài kinh không có một bài thuyết pháp dài, cũng không có câu hỏi siêu hình; nó kể lại một cuộc gặp ở Rājagaha (Vương Xá), trong vườn trúc Veḷuvana (Trúc Lâm), giữa Tôn giả Bākula, một vị tỳ-kheo đã tu rất lâu, và du sĩ lõa thể Kassapa, người bạn cũ của Ngài từ thuở cả hai còn sống đời tại gia.

Câu chuyện bắt đầu bằng một câu hỏi rất đời: ông đã xuất gia bao lâu rồi? Tám mươi năm. Rồi Kassapa hỏi thêm một câu thẳng thừng và tò mò: trong tám mươi năm ấy, ông đã hành dâm bao nhiêu lần? Tôn giả Bākula không trả lời trực tiếp. Ngài nói câu hỏi ấy không nên đặt ra như vậy, mà nên hỏi: trong tám mươi năm ấy, đã bao nhiêu lần dục tưởng khởi lên trong tâm? Và câu trả lời là: chưa một lần.

Phần lớn còn lại của bài kinh là một danh sách. Suốt tám mươi năm, Tôn giả không nhớ có lần nào tưởng sân hận hay tưởng não hại khởi lên trong tâm, cũng không nhớ đã từng nhận y từ gia chủ, cắt y bằng dao, khâu y bằng kim, nhuộm y, nhận lời mời, ngồi hay ăn trong nhà người, giảng Pháp cho người nữ, đến trú xứ tỳ-kheo-ni, cho ai xuất gia, truyền giới cụ túc, tắm trong nhà tắm hơi, nhờ người xoa bóp, bị bệnh, được dâng thuốc, tựa vào ghế tựa hay soạn giường. Mỗi mục được ghi ngắn gọn, rồi một câu điệp khúc lặp đi lặp lại: chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

Cần phân biệt hai chuyện. Nhiều điều trong danh sách ấy tự nó không xấu: tắm, dùng thuốc, nằm giường, dạy người nữ, nhận đệ tử đều là những việc Luật cho phép. Bài kinh không nói ai làm những việc ấy là phạm lỗi; nó chỉ ghi lại rằng Tôn giả Bākula đã sống theo một mức khắt khe xa hơn mức thường. Vì thế danh sách này đọc như một chân dung về hạnh ít dục hơn là một bản luật.

Cuối bài, Kassapa xin xuất gia, được thọ giới, và không lâu sau chứng quả A-la-hán. Rồi Tôn giả Bākula cầm chìa khóa đi khắp các trú xứ, gọi các tỳ-kheo lại và báo hôm nay mình sẽ nhập Niết-bàn. Ngài nhập Niết-bàn ngay trong tư thế ngồi, giữa Tăng đoàn. Bài kinh khép lại bằng câu ghi nhận của phẩm kinh.

Người đọc hôm nay có thể để ý một chi tiết: suốt bài kinh, Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của Tăng đoàn, không xuất hiện, và không ai nói bài kinh được giảng ở đâu. Chú giải giải thích rằng bài này được các vị trưởng lão thêm vào trong kỳ kết tập lần thứ hai, khoảng một thế kỷ sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt. Dù vậy, bản kinh vẫn giữ nguyên giá trị như một chứng tích về cách một truyền thống ghi nhớ người mẫu mực của mình, và về việc lý tưởng ít dục có thể được đẩy xa đến mức nào.

[Chú thích của người dịch: Bản Mahāsaṅgīti ghi tên Ngài là Bākula, bản dịch của Bhikkhu Sujato viết Bakkula, còn bài kệ của Ngài trong Trưởng Lão Tăng Kệ cũng dùng dạng Bakkula. Trong Hán tạng, bài kinh tương ứng là kinh Bạc-câu-la, bài 34 của bộ Trung A-hàm. Bản dịch ở đây giữ dạng Bākula theo bản Pali dùng làm nguồn.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh khắc họa Bākula như một mẫu mực khổ hạnh vượt xa mức thông thường của kinh điển sơ kỳ. Chú giải cho rằng các vị trưởng lão đã thêm bài này vào kỳ kết tập lần thứ hai, khoảng một trăm năm sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt; điều ấy phù hợp với việc bài kinh không nói Đức Thế Tôn trú ở đâu và với tuổi đã rất cao của Bākula. Các bài kệ của Ngài trong Trưởng Lão Tăng Kệ thì giản dị, không nặng sự khổ hạnh như ở đây.]

Một thuở nọ, Tôn giả Bākula (Bạc-câu-la) trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).

Rồi du sĩ lõa thể Kassapa (Ca-diếp), bạn cũ thời còn tại gia của Tôn giả Bākula, đi đến chỗ Tôn giả Bākula. Đến nơi, ông ta chào hỏi thân tình với Tôn giả.

[Chú thích: Cụm từ 'bạn cũ thời còn tại gia' chỉ xuất hiện ở đây và ở SN 41.9, nơi cũng có một du sĩ lõa thể tên Kassapa, nên khó là chuyện trùng hợp. Ở bài ấy, ông ta là bạn cũ của gia chủ Citta và là người bị hỏi chuyện. Các sự kiện trong bài này xảy ra nhiều thập niên sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, nên có lẽ Kassapa được đưa vào để làm người đối đáp quen thuộc.]

Sau khi chào hỏi và nói với nhau vài lời xã giao, ông ta ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, du sĩ lõa thể Kassapa nói với Tôn giả Bākula:

"Này Tôn giả Bākula, Ngài xuất gia đã bao lâu rồi?"

"Này Kassapa, tôi xuất gia đã được tám mươi năm."

[Chú thích: Người ta có thể xuất gia từ mười lăm tuổi, hoặc từ khi đủ lớn để đuổi quạ, nên lúc này Ngài có lẽ đã hơn chín mươi tuổi.]

"Nhưng trong tám mươi năm ấy, này Tôn giả Bākula, Ngài đã hành dâm bao nhiêu lần?"

"Này Kassapa, ông không nên hỏi tôi như vầy:

'Nhưng trong tám mươi năm ấy, này Tôn giả Bākula, Ngài đã hành dâm bao nhiêu lần?'"

"Mà ông nên hỏi tôi như vầy:

'Nhưng trong tám mươi năm ấy, này Tôn giả Bākula, đã bao nhiêu lần dục tưởng khởi lên trong Ngài?'"

"Nhưng trong tám mươi năm ấy, này Tôn giả Bākula, đã bao nhiêu lần dục tưởng khởi lên trong Ngài?"

[Chú thích: Câu này được lặp lại trong bản PTS và bản BJT, nhưng không có trong bản Miến Điện và bản Xiêm.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào dục tưởng khởi lên trong tâm tôi."

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ có lần nào dục tưởng khởi lên trong tâm; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

[Chú thích: Theo chú giải, những câu đáp này do các vị trưởng lão thêm vào để ca ngợi hạnh khổ hạnh của Bākula trong kỳ kết tập lần thứ hai. Điều ấy phù hợp với việc các câu điệp được ghi ở dạng số nhiều, thiếu tiểu từ 'ti' báo hiệu lời trích trực tiếp, và vẫn tiếp tục sau khi cuộc đối thoại với Kassapa đã xong. Những câu điệp này cũng có trong bản Hán song song, cho thấy chúng có thể đã được thêm vào khoảng một thế kỷ hoặc hơn sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào tưởng sân hận khởi lên trong tâm tôi."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào tưởng não hại khởi lên trong tâm tôi."

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ có lần nào tưởng não hại khởi lên trong tâm; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào dục tầm khởi lên trong tâm tôi."

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ có lần nào dục tầm khởi lên trong tâm; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào tầm sân hận khởi lên trong tâm tôi."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào tầm não hại khởi lên trong tâm tôi."

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ có lần nào tầm não hại khởi lên trong tâm; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã nhận y từ một gia chủ."

[Chú thích: Từ chỗ nói về sự trong sạch của tâm, Tôn giả Bākula chuyển sang những chi tiết trong cách sống: tuy không phải điều xấu, chúng cho thấy mức khổ hạnh cực đoan của Ngài. Nhận y từ gia chủ là dùng vật dâng cúng của người giàu, trong khi tỳ-kheo khổ hạnh mặc y may từ vải rách, và chuyện Ānanda ở MN 52 cho thấy y tốt vẫn có thể được chia lại mà dùng. Bài kinh này phản ánh cuộc tranh luận ở kỳ kết tập lần thứ hai giữa phái khắt khe và phái dễ dãi về Luật, trong đó Bākula tiêu biểu cho lập trường khắt khe đến mức nếu ai cũng theo thì Tăng đoàn khó tồn tại.]

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ đã nhận y từ một gia chủ; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã cắt y bằng dao."

[Chú thích: Những mục tiếp theo gợi lại chuyện Đức Thế Tôn để ý việc may y ở MN 122. Phần lớn các mục này không có trong bản Hán song song, tức bài 34 của bộ Trung A-hàm.]

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ đã cắt y bằng dao; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã khâu y bằng kim."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã nhuộm y bằng thuốc nhuộm."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã khâu y trong dịp lễ dâng y kaṭhina."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã đi đó đi đây lo việc may y cho các bạn đồng tu."

[Chú thích: Trường hợp này được bàn trong giới điều Pācittiya 46 của tỳ-kheo, vốn cấm ghé nhà người khác trên đường đến chỗ thọ trai; nhưng có ngoại lệ riêng cho mùa dâng y và may y.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã nhận lời mời."

[Chú thích: Tôn giả Bākula chỉ ăn thức ăn khất thực, không nhận ăn tại nhà người tại gia theo lời mời.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ có lần nào một ý nghĩ như vầy khởi lên trong tâm tôi:

'Ước gì có ai mời tôi!'"

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã ngồi trong nhà người."

[Chú thích: Việc này được phép, nhưng đôi khi khiến tỳ-kheo bị cuốn vào chuyện của người tại gia mà mình không muốn.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã ăn trong nhà người."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã nắm bắt tướng chung qua những tướng riêng nơi người nữ."

[Chú thích: Đây là phép hộ trì các căn: không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Với người nữ, nghĩa là không để tâm dừng lại ở dáng vẻ, cử chỉ hay lời nói để rồi sinh tham.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã giảng Pháp cho người nữ, dù chỉ một bài kệ bốn câu."

[Chú thích: Giới điều Pācittiya 7 cấm giảng cho người khác phái quá năm sáu câu kệ, trừ khi có người đi kèm.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã đến trú xứ của các tỳ-kheo-ni."

[Chú thích: Đây là mức khắt khe hơn giới điều Pācittiya 23, vốn chỉ cấm đến trú xứ tỳ-kheo-ni để dạy giới bổn mỗi nửa tháng, và có vài ngoại lệ.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã giảng Pháp cho các tỳ-kheo-ni."

[Chú thích: Ở MN 146, Đức Thế Tôn khuyến khích Nandaka giảng cho các tỳ-kheo-ni; Luật cũng nói tỳ-kheo nên nhận lời dạy ni và nên đến giúp ni chúng. So sánh giới điều Pācittiya 24, cấm dạy ni vì lợi dưỡng.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã giảng Pháp cho các nữ tu đang học giới (sikkhamānā)."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã giảng Pháp cho các sa-di-ni."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã cho ai xuất gia."

[Chú thích: Có lẽ Tôn giả Bākula muốn tránh trách nhiệm nhận đệ tử. Nếu ai cũng làm như vậy thì Tăng đoàn không thể tồn tại.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã truyền giới cụ túc cho ai."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã ban sự nương tựa (nissaya) cho ai."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã để một sa-di hầu hạ mình."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã tắm trong nhà tắm hơi."

[Chú thích: Luật tạng cho phép việc này vì lý do sức khỏe.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã tắm bằng bột tắm."

[Chú thích: Bột tắm là thứ thường dùng, nhưng đôi khi bị xem là cách nuông chiều thân.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã nhờ các bạn đồng tu xoa bóp thân mình."

[Chú thích: Xoa bóp được làm vì sức khỏe và để tỏ lòng kính trọng, nhưng cũng thường gây rắc rối vì có thể khơi dậy dục. Có lúc Đức Thế Tôn cấm tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni nhận xoa bóp, tuy vẫn cho phép kiểu xoa bóp bằng cả bàn tay.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã từng bị bệnh, dù chỉ trong khoảng thời gian vắt sữa một con bò."

[Chú thích: Tôn giả Bākula được xem là vị tỳ-kheo đứng đầu về sức khỏe (AN 1.226), một lời tán thán hẳn được thêm vào sau khi Ngài mất. Có lẽ Ngài nói điều này vì nhiều mục khác vốn được cho phép nhằm mục đích sức khỏe, và một việc như xoa bóp có thể từ chỗ để giữ sức khỏe mà trở thành thói nuông chiều.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã được dâng thuốc, dù chỉ một miếng kha tử."

[Chú thích: Luật tạng cho phép dùng kha tử như một vị thuốc.]


"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã tựa vào ghế tựa."

[Chú thích: Luật tạng cho phép dùng ghế tựa. Đó là một tấm ván dựa vào vách, dùng làm chỗ tựa lưng đơn giản.]

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã soạn giường để nằm."

[Chú thích: Giường đơn giản thì được phép, nhưng Tôn giả Bākula ngủ trên đất.]

"Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ đã tắm trong nhà tắm hơi, không nhớ đã tắm bằng bột tắm, không nhớ đã nhờ các bạn đồng tu xoa bóp, không nhớ đã từng bị bệnh, không nhớ đã được dâng thuốc, không nhớ đã tựa vào ghế tựa, không nhớ đã soạn giường để nằm; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả."

"Suốt tám mươi năm xuất gia, này Kassapa, tôi không nhớ đã vào an cư mùa mưa tại một trú xứ gần làng."

Suốt tám mươi năm, Tôn giả Bākula không nhớ đã vào an cư mùa mưa tại một trú xứ gần làng; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Này Kassapa, tôi chỉ ăn bát cơm của dân nước trong bảy ngày khi còn là kẻ mắc nợ."

[Chú thích: Câu nói này cũng có ở SN 16.11, nơi Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca-diếp) kể lại; xem thêm MN 26 và chú thích ở đó.]

Rồi đến ngày thứ tám, tuệ giác khởi lên.

Tôn giả Bākula chỉ ăn bát cơm của dân nước trong bảy ngày khi còn là kẻ mắc nợ, rồi đến ngày thứ tám tuệ giác khởi lên; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

"Thưa Tôn giả Bākula, xin cho tôi được xuất gia và thọ giới cụ túc trong Pháp và Luật này."

Du sĩ lõa thể Kassapa được xuất gia và được thọ giới cụ túc trong Pháp và Luật này.

Vừa thọ giới cụ túc không lâu, Tôn giả Kassapa sống một mình, tách khỏi đám đông, không phóng dật, nhiệt tâm, quyết chí. Chẳng bao lâu, ngay trong đời này, vị ấy tự chứng biết bằng thắng trí và chứng đạt sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh, tức mục đích mà những thiện nam tử chân chính xuất gia từ nhà ra không nhà hướng đến, rồi an trú trong đó.

Vị ấy biết rõ: "Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa."

Và Tôn giả Kassapa trở thành một trong các bậc A-la-hán.

Rồi một thời gian sau, Tôn giả Bākula cầm chìa khóa, đi từ trú xứ này sang trú xứ khác và nói:

[Chú thích: Chìa khóa ở đây là kiểu chìa vạn năng đút qua lỗ cửa để đẩy then bên trong. Ngài cầm nó để mở được các trú xứ bên trong tu viện và báo tin cho mọi người.]

"Các Tôn giả hãy lại đây, các Tôn giả hãy lại đây! Hôm nay tôi sẽ nhập Niết-bàn."

Tôn giả Bākula cầm chìa khóa đi từ trú xứ này sang trú xứ khác và nói: "Các Tôn giả hãy lại đây, các Tôn giả hãy lại đây! Hôm nay tôi sẽ nhập Niết-bàn"; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

Tôn giả Bākula nhập Niết-bàn ngay trong tư thế ngồi, giữa Tăng đoàn tỳ-kheo.

Tôn giả Bākula nhập Niết-bàn ngay trong tư thế ngồi giữa Tăng đoàn tỳ-kheo; chúng tôi ghi nhớ điều này là một phẩm chất kỳ diệu, hi hữu của Tôn giả.

Kinh Bākula, bài thứ tư, hoàn tất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →