Trung Bộ Kinh · bài 126/152
Kinh Bhūmija
Bhūmija Sutta — bài kinh của Tôn giả Bhūmija, về cách tu tập hợp lý và không hợp lý
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Bhūmija (Bhūmijasutta) là bài kinh thứ 126 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), nơi Đức Thế Tôn đang trú trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm). Một buổi sáng, Tôn giả Bhūmija mặc y, cầm bát đi vào nhà của thái tử Jayasena — cũng là vị thái tử xuất hiện trong bài kinh trước, MN 125 — và ngồi xuống chỗ đã được sắp đặt.
Câu chuyện bắt đầu bằng một ý kiến mà thái tử đã nghe ở đâu đó. Có những sa-môn và bà-la-môn chủ trương rằng dù người ta có ước muốn hay không ước muốn, dù vừa có vừa không, hay chẳng có cũng chẳng không, thì sống đời phạm hạnh cũng không thể đạt được quả. Thái tử muốn biết bậc Đạo sư của Tôn giả Bhūmija nói gì về chuyện ấy. Bốn khả năng kia là một lối lập luận quen thuộc của thời ấy: liệt kê hết mọi trường hợp để cho thấy kết luận luôn luôn như nhau, và vì thế mà công việc tu tập thành ra vô ích.
Tôn giả Bhūmija trả lời rất thận trọng. Ngài nói mình chưa từng nghe điều ấy trước mặt Đức Thế Tôn, nhưng có thể Ngài sẽ trả lời thế này: vấn đề không nằm ở chỗ có ước muốn hay không, mà nằm ở chỗ hành trì có hợp lý hay không. Có ước muốn mà tu sai cách thì không đạt quả; không ước muốn mà tu sai cách cũng không đạt quả; và ngược lại, tu đúng cách thì đạt quả, bất kể ước muốn có hay không. Thái tử nghe vậy thì khen bậc Đạo sư ấy, và dâng cơm cho ngài.
Khi được Đức Thế Tôn xác nhận là đã trả lời đúng, Tôn giả Bhūmija nghe Ngài triển khai điều ấy thành một lập luận đầy đủ. Trước hết là tám chi phần của con đường: ai có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định thì dù có ước muốn hay không cũng không đạt quả; ai có tám chi phần chánh thì đạt quả. Rồi Ngài đưa ra bốn cặp ví dụ, mỗi cặp đặt một việc làm vô ích cạnh một việc làm đúng chỗ: đổ cát vào chậu mà ép lấy dầu, so với đổ bột mè mà ép; nắm sừng bò cái mà kéo, so với nắm bầu vú mà kéo; đổ nước vào ghè mà khuấy lấy bơ, so với đổ sữa chua; cọ lửa vào khúc gỗ còn tươi, so với khúc gỗ khô đã hết nhựa.
Điều đáng nhớ nhất ở bài kinh này là cách nó định nghĩa sự hợp lý. Một người có thể rất siêng năng, rất thành tâm, lại còn ước muốn tha thiết, mà vẫn không có kết quả — không phải vì thiếu công sức, mà vì công sức đặt sai chỗ. Cát thì không bao giờ thành dầu, dù người ta có ép bao lâu và mong mỏi đến đâu; muốn có dầu thì phải ép mè. Bài kinh gọi cách làm đúng nhân duyên như vậy là yoniso, và qua bốn cặp ví dụ ấy nó cho thấy đây không phải chuyện tin hay không tin, mà là chuyện hiểu vật liệu mình đang có trong tay. Kết bài, Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Bhūmija rằng nếu bốn ví dụ ấy ứng đến ông, thì hẳn thái tử đã sinh lòng tin nơi ông; Tôn giả đáp lại rằng làm sao những ví dụ ấy có thể tự ứng đến mình được. Câu ấy vừa là lời khiêm tốn, vừa là lời nhắc rằng tuệ không phải thứ ai cũng tự nghĩ ra được.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Rồi vào buổi sáng, Tôn giả Bhūmija mặc y, cầm bát và y, đi đến nhà của thái tử Jayasena; sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ đã được sắp đặt.
[Chú thích: Tôn giả Bhūmija cũng xuất hiện trong SN 12.25, nơi ngài hỏi Tôn giả Sāriputta về hiệu lực của hành động. Đây là lần thứ hai thái tử Jayasena xuất hiện, sau MN 125; tuy tỏ ra quan tâm đến Pháp và dâng bữa ăn cho các tỳ-kheo ở đây, ông không được ghi lại là đã quy y hay đã đạt được tiến bộ tâm linh.]
Rồi thái tử Jayasena đi đến chỗ Tôn giả Bhūmija; sau khi đến, ông chào hỏi Tôn giả Bhūmija.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thái tử Jayasena nói với Tôn giả Bhūmija:
"Thưa ngài Bhūmija, có một số sa-môn và bà-la-môn có chủ trương và quan điểm như vầy:
'Dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
[Chú thích: Ước muốn ở đây là āsa, tức sự mong cầu có được kết quả của đời sống phạm hạnh.]
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.'
Bậc Đạo sư của ngài Bhūmija nói gì, thuyết giảng gì về điều ấy?"
"Thưa thái tử, điều ấy tôi chưa được nghe trước mặt Đức Thế Tôn, chưa được thọ nhận trước mặt Ngài.
[Chú thích: Cũng như sa-di Aciravata trong MN 125, ngài thận trọng khi trả lời, vì không muốn nói thay lời Đức Thế Tôn.]
Nhưng có thể xảy ra chuyện Đức Thế Tôn sẽ trả lời như vầy:
'Dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
[Chú thích: Không hợp lý (ayoniso) ở đây nghĩa là cách hành trì không có liên hệ nhân quả với kết quả mình mong đợi; bài kinh sẽ làm rõ điều ấy bằng một loạt ví dụ. Cặp yoniso và ayoniso là thuật ngữ then chốt của bài.]
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Nhưng nếu có ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.'
Thưa thái tử, điều ấy tôi chưa được nghe trước mặt Đức Thế Tôn, chưa được thọ nhận trước mặt Ngài.
Nhưng có thể xảy ra chuyện Đức Thế Tôn sẽ trả lời như vậy."
"Nếu bậc Đạo sư của ngài Bhūmija nói như vậy, thuyết giảng như vậy, thì hẳn nhiên, tôi nghĩ bậc Đạo sư ấy đứng trên đầu tất cả các sa-môn và bà-la-môn đủ hạng."
Rồi thái tử Jayasena dâng cho Tôn giả Bhūmija chính phần cơm trong bát của mình.
Rồi Tôn giả Bhūmija, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; sau khi đến, ngài đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhūmija nói với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, sáng nay con mặc y, cầm bát và y, đi đến nhà của thái tử Jayasena; sau khi đến, con ngồi xuống chỗ đã được sắp đặt.
Rồi bạch Thế Tôn, thái tử Jayasena đi đến chỗ con; sau khi đến, ông chào hỏi con.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, thái tử Jayasena nói với con:
'Thưa ngài Bhūmija, có một số sa-môn và bà-la-môn có chủ trương và quan điểm như vầy:
Dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.'
Bậc Đạo sư của ngài Bhūmija nói gì, thuyết giảng gì về điều ấy?'
Khi nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với thái tử Jayasena:
'Thưa thái tử, điều ấy tôi chưa được nghe trước mặt Đức Thế Tôn, chưa được thọ nhận trước mặt Ngài.
Nhưng có thể xảy ra chuyện Đức Thế Tôn sẽ trả lời như vầy:
Dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách không hợp lý, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Nhưng nếu có ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.
Nếu chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh một cách hợp lý, họ có khả năng đạt được quả.'
Thưa thái tử, điều ấy tôi chưa được nghe trước mặt Đức Thế Tôn, chưa được thọ nhận trước mặt Ngài.
Nhưng có thể xảy ra chuyện Đức Thế Tôn sẽ trả lời như vậy.'
'Nếu bậc Đạo sư của ngài Bhūmija nói như vậy, thuyết giảng như vậy, thì hẳn nhiên, tôi nghĩ bậc Đạo sư ấy đứng trên đầu tất cả các sa-môn và bà-la-môn đủ hạng.'
Bạch Thế Tôn, khi được hỏi như vậy và trả lời như vậy, con có phải là người đã nói đúng lời Đức Thế Tôn, không xuyên tạc Đức Thế Tôn bằng điều không thật, đã giải thích đúng theo Pháp, và không ai có cớ hợp Pháp để chê trách chăng?"
Này Bhūmija, đúng vậy, khi được hỏi như vậy và trả lời như vậy, ông đã nói đúng lời Ta, không xuyên tạc Ta bằng điều không thật, đã giải thích đúng theo Pháp, và không ai có cớ hợp Pháp để chê trách.
Này Bhūmija, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần dầu, tìm dầu, đi tìm dầu; người ấy đổ cát vào một cái chậu, rồi rưới nước từng chút một mà ép ra.
Dù có ước muốn, người ấy đổ cát vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng không có khả năng lấy được dầu.
Dù không ước muốn, người ấy đổ cát vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng không có khả năng lấy được dầu.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy đổ cát vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng không có khả năng lấy được dầu.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy đổ cát vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng không có khả năng lấy được dầu.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để lấy được dầu.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần sữa, tìm sữa, đi tìm sữa; người ấy nắm lấy sừng một con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo.
Dù có ước muốn, người ấy nắm lấy sừng con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng không có khả năng lấy được sữa.
Dù không ước muốn, người ấy nắm lấy sừng con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng không có khả năng lấy được sữa.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy nắm lấy sừng con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng không có khả năng lấy được sữa.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy nắm lấy sừng con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng không có khả năng lấy được sữa.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để lấy được sữa.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần bơ, tìm bơ, đi tìm bơ; người ấy đổ nước vào một cái ghè rồi lấy que mà khuấy.
Dù có ước muốn, người ấy đổ nước vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng không có khả năng làm ra bơ.
Dù không ước muốn, người ấy đổ nước vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng không có khả năng làm ra bơ.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy đổ nước vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng không có khả năng làm ra bơ.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy đổ nước vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng không có khả năng làm ra bơ.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để làm ra bơ.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần lửa, tìm lửa, đi tìm lửa; người ấy cầm que cọ lửa mà cọ vào một khúc gỗ tươi còn nhựa.
Dù có ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ tươi còn nhựa, cũng không có khả năng bắt được lửa.
Dù không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ tươi còn nhựa, cũng không có khả năng bắt được lửa.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ tươi còn nhựa, cũng không có khả năng bắt được lửa.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ tươi còn nhựa, cũng không có khả năng bắt được lửa.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để bắt được lửa.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng không có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách không hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần dầu, tìm dầu, đi tìm dầu; người ấy đổ bột mè vào một cái chậu, rồi rưới nước từng chút một mà ép ra.
Dù có ước muốn, người ấy đổ bột mè vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng có khả năng lấy được dầu.
Dù không ước muốn, người ấy đổ bột mè vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng có khả năng lấy được dầu.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy đổ bột mè vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng có khả năng lấy được dầu.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy đổ bột mè vào chậu, rưới nước từng chút một mà ép ra, cũng có khả năng lấy được dầu.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để lấy được dầu.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần sữa, tìm sữa, đi tìm sữa; người ấy nắm lấy bầu vú một con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo.
Dù có ước muốn, người ấy nắm lấy bầu vú con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng có khả năng lấy được sữa.
Dù không ước muốn, người ấy nắm lấy bầu vú con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng có khả năng lấy được sữa.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy nắm lấy bầu vú con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng có khả năng lấy được sữa.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy nắm lấy bầu vú con bò cái vừa mới đẻ con mà kéo, cũng có khả năng lấy được sữa.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để lấy được sữa.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần bơ, tìm bơ, đi tìm bơ; người ấy đổ sữa chua vào một cái ghè rồi lấy que mà khuấy.
Dù có ước muốn, người ấy đổ sữa chua vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng có khả năng làm ra bơ.
Dù không ước muốn, người ấy đổ sữa chua vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng có khả năng làm ra bơ.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy đổ sữa chua vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng có khả năng làm ra bơ.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy đổ sữa chua vào ghè, lấy que mà khuấy, cũng có khả năng làm ra bơ.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để làm ra bơ.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, ví như một người cần lửa, tìm lửa, đi tìm lửa; người ấy cầm que cọ lửa mà cọ vào một khúc gỗ khô đã hết nhựa.
Dù có ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ khô đã hết nhựa, cũng có khả năng bắt được lửa.
Dù không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ khô đã hết nhựa, cũng có khả năng bắt được lửa.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ khô đã hết nhựa, cũng có khả năng bắt được lửa.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn, người ấy cầm que cọ lửa cọ vào khúc gỗ khô đã hết nhựa, cũng có khả năng bắt được lửa.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để bắt được lửa.
Này Bhūmija, cũng vậy, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Những người ấy, dù có ước muốn mà sống đời phạm hạnh, cũng có khả năng đạt được quả.
Dù không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù vừa có ước muốn vừa không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Dù chẳng có ước muốn cũng chẳng không ước muốn mà sống đời phạm hạnh, họ cũng có khả năng đạt được quả.
Vì sao vậy?
Vì đó là cách hợp lý để đạt được quả.
Này Bhūmija, nếu bốn ví dụ này ứng đến ông, thì chẳng có gì lạ nếu thái tử Jayasena sinh lòng tin nơi ông; và khi đã có lòng tin, ông ta hẳn sẽ bày tỏ lòng tin ấy.
[Chú thích: Ở trên, tại MN 126:5.1, thái tử Jayasena tỏ lòng tin nơi Đức Thế Tôn, chứ không phải nơi Tôn giả Bhūmija.] [Chú thích của người dịch: Bốn ví dụ ở đây là bốn cặp, mỗi cặp gồm một cách làm không hợp lý và một cách làm hợp lý.]
"Bạch Thế Tôn, làm sao bốn ví dụ ấy có thể ứng đến cho con như chúng đã ứng đến cho Đức Thế Tôn, khi mà chúng chẳng phải chuyện lạ lùng và con thì chưa từng nghe từ trước?"
[Chú thích: Đoạn này lặp lại nguyên văn lời của sa-di Aciravata trong MN 125.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Bhūmija hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Kinh Bhūmija hoàn tất, bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.