buppou

Trung Bộ Kinh · bài 13/152

Đại Kinh Khổ Uẩn

Mahādukkhakkhandha Sutta — bài kinh về khối khổ lớn

26 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Khổ Uẩn (Mahādukkhakkhandha Sutta) là bài kinh thứ mười ba trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài kinh không mở đầu bằng một phép mầu hay một cuộc tranh luận lớn, mà bằng một chuyện rất đời: mấy vị tỳ-kheo đi khất thực sớm quá, rẽ vào khu vườn của các du sĩ ngoại đạo cho qua thời gian, và nghe họ nói một câu tưởng như vô hại.

Các du sĩ bảo: sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các dục, các sắc và các cảm thọ; chúng tôi cũng dạy như vậy. Vậy giữa hai bên có gì khác nhau? Các tỳ-kheo không tán thành cũng không bác bỏ, mà đem câu hỏi ấy về hỏi Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn trả lời bằng cách đặt ra bộ ba câu hỏi, và đó cũng là bộ khung của cả bài kinh: cái gì là sự thích thú, cái gì là mối nguy hại, và cái gì là sự thoát ra.

Với mỗi thứ trong ba thứ ấy — dục, sắc, cảm thọ — bài kinh lần lượt chỉ ra cả hai mặt. Dục không bị bác bỏ trắng trợn: nó có cái thú thật, và bài kinh nói rõ cái thú ấy đến từ năm giác quan. Nhưng rồi bài kinh kể một chuỗi dài những hệ quả: người ta phải chịu lạnh, chịu nóng, bị muỗi mòng quấy nhiễu để kiếm sống; kiếm được của rồi thì lo giữ, mất rồi thì đau; rồi vì dục mà vua chúa tranh chấp nhau, cha con cãi nhau, người ta lao vào trận chiến, phá nhà cướp của, ngoại tình, rồi bị hành hình, và cuối cùng là những hành vi ác dẫn đến đọa xứ.

Phần về sắc thì đi theo một hướng khác. Bài kinh lấy một thiếu nữ đang độ đẹp nhất, rồi cho người đọc nhìn tiếp: vài chục năm sau, người ấy lưng còng, răng rụng, tóc bạc; rồi ốm nằm trong nước tiểu và phân của chính mình; rồi chết, thân xác trương phình, bị quạ, chó rỉa, rồi chỉ còn xương trắng. Đó không phải là bài học khinh bỉ thân xác, mà là một cách nhìn thẳng vào tính không bền của cái đẹp mà ta bám vào. Phần về cảm thọ lại đưa ra mặt tươi sáng nhất: bốn tầng thiền-na, nơi tâm không còn ý làm hại ai, và ở đó cảm thọ đạt đến chỗ tối thượng là không làm hại. Nhưng ngay cả cảm thọ ấy cũng vô thường.

Cái tên "khổ uẩn" không có nghĩa là bài kinh chỉ nói về khổ. Nó nói rằng mỗi thứ mình ham, khi nhìn đủ cả hai mặt, hiện ra như một khối nặng: cái thú thì ngắn, cái giá thì dài, và giữa hai cái ấy có một lối ra. Đức Thế Tôn không bảo các tỳ-kheo đi tìm cái thú, cũng không bảo họ ghét bỏ nó; Ngài bảo họ hiểu nó đủ để thôi bị nó dắt. Đó là lý do bài kinh này vẫn đọc được hôm nay, kể cả với người chưa từng học Phật.

[Chú thích của người dịch: Mahā là "lớn", dukkhakkhandha là "khối khổ". Tên kinh nói rằng bài này phân tích những khối khổ lớn phát sinh từ dục, sắc và cảm thọ.]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi vào buổi sáng, nhiều vị tỳ-kheo đắp y, mang bát và y đi vào Sāvatthī để khất thực.

Rồi các vị tỳ-kheo ấy nghĩ rằng:

"Còn quá sớm để đi khất thực trong Sāvatthī,

vậy chúng ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo kia."

Rồi các vị tỳ-kheo ấy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; đến nơi, các vị chào hỏi thân thiện với các du sĩ ngoại đạo ấy.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và những chuyện thăm hỏi, các vị ngồi xuống một bên. Khi các vị tỳ-kheo đã ngồi xuống một bên, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với họ:

"Thưa hiền giả, sa-môn Gotama (Cồ-đàm) dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các dục, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các dục.

[Chú thích: Bộ ba này — dục, sắc, cảm thọ — cũng xuất hiện ở AN 3.126 và AN 10.29, nơi chúng cũng gắn với giáo lý của các ngoại đạo.]

Thưa hiền giả, sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các sắc, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các sắc.

Thưa hiền giả, sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ.

[Chú thích: Kinh không nói các du sĩ hiểu ba sự hiểu biết trọn vẹn ấy theo nghĩa nào. Chú giải cho rằng họ nói tới, theo thứ tự, thiền-na thứ nhất, các tầng vô sắc và cõi vô tưởng.]

Vậy ở đây, thưa hiền giả, giữa sa-môn Gotama và chúng tôi có gì khác biệt, có điểm gì riêng, có sự phân biệt nào —

tức là giữa lời giảng Pháp của vị ấy với lời giảng Pháp của chúng tôi, giữa lời dạy dỗ của vị ấy với lời dạy dỗ của chúng tôi?"

[Chú thích: Cách đặt vấn đề này cho thấy các du sĩ sáng suốt hơn nhiều người ngày nay, những người vội vàng đi từ chỗ thấy hai tôn giáo có điểm chung đến chỗ cho rằng chúng hoàn toàn giống nhau.]

Rồi các vị tỳ-kheo ấy không tán thán cũng không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo.

Không tán thán, không bác bỏ, các vị đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi:

"Chúng ta sẽ hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Đức Thế Tôn."

[Chú thích: Đây là thái độ tiêu biểu của người tu Phật khi gặp điều chưa biết: không vội tin, không vội bác, mà hỏi cho rõ.]

Rồi các vị tỳ-kheo ấy đi khất thực ở Sāvatthī; sau bữa ăn, khi đã khất thực trở về, các vị đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, các vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, sáng nay chúng con đắp y, mang bát và y đi vào Sāvatthī khất thực.

Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ rằng:

'Còn quá sớm để đi khất thực trong Sāvatthī,

vậy chúng con hãy đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo kia.'

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo; đến nơi, chúng con chào hỏi thân thiện với các du sĩ ngoại đạo ấy.

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân mật và những chuyện thăm hỏi, chúng con ngồi xuống một bên. Khi chúng con đã ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con:

'Thưa hiền giả, sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các dục, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các dục.

Thưa hiền giả, sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các sắc, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các sắc.

Thưa hiền giả, sa-môn Gotama dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ, và chúng tôi cũng dạy về sự hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ.

Vậy ở đây, thưa hiền giả, giữa sa-môn Gotama và chúng tôi có gì khác biệt, có điểm gì riêng, có sự phân biệt nào, tức là giữa lời giảng Pháp của vị ấy với lời giảng Pháp của chúng tôi, giữa lời dạy dỗ của vị ấy với lời dạy dỗ của chúng tôi?'

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con không tán thán cũng không bác bỏ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy.

Không tán thán, không bác bỏ, chúng con đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi:

'Chúng con sẽ hiểu rõ ý nghĩa lời nói này từ Đức Thế Tôn.'"

Này các tỳ-kheo, khi các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, các ông nên nói với họ rằng:

"Nhưng thưa hiền giả, cái gì là sự thích thú của các dục, cái gì là mối nguy hại, cái gì là sự thoát ra?

[Chú thích: Bộ ba câu hỏi này là một cách phân tích then chốt trong các bài kinh: không thấy cả mặt tốt lẫn mặt xấu của một thứ thì không thể hiểu đúng nó và thoát khỏi lòng tham đối với nó.]

Cái gì là sự thích thú của các sắc, cái gì là mối nguy hại, cái gì là sự thoát ra?

Cái gì là sự thích thú của các cảm thọ, cái gì là mối nguy hại, cái gì là sự thoát ra?"

Được hỏi như vậy, này các tỳ-kheo, các du sĩ ngoại đạo sẽ không thể giải đáp, mà còn chuốc thêm bực bội.

Vì sao vậy?

Vì điều ấy nằm ngoài lĩnh vực của họ.

Này các tỳ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới này — thế giới có chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, có chúng sinh gồm sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người — có thể trả lời những câu hỏi này một cách thỏa đáng, ngoài Như Lai, hay một đệ tử của Như Lai, hay người đã nghe từ Như Lai hoặc vị đệ tử ấy.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thích thú của các dục?

Này các tỳ-kheo, có năm loại dục.

Năm là những gì?

Các sắc do mắt nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham,

các âm thanh do tai nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham,

các mùi hương do mũi nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham,

các vị do lưỡi nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham,

các xúc chạm do thân nhận biết, đáng yêu, đáng thích, dễ chịu, dễ mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham —

Này các tỳ-kheo, đó là năm loại dục.

Này các tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh nhờ năm loại dục này — đó là sự thích thú của các dục.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là mối nguy hại của các dục?

Ở đây, này các tỳ-kheo, một người con nhà tử tế mưu sống bằng một nghề nào đó.


Đó có thể là nghề đóng dấu, nghề đếm, nghề tính toán, nghề làm ruộng, nghề buôn bán, nghề chăn bò, nghề bắn cung, nghề phục vụ vua, hay một nghề nào khác —

người ấy phải chịu lạnh, chịu nóng, bị ruồi mòng, muỗi, gió, nắng và rắn rết quấy nhiễu, có khi phải chết vì đói và khát;

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Này các tỳ-kheo, nếu người con nhà tử tế ấy nỗ lực, cố gắng, ra sức như vậy mà của cải không thành tựu,

thì người ấy buồn bã, mệt mỏi, than khóc, đập ngực, kêu gào, rơi vào mê loạn:

"Sự nỗ lực của tôi thật là uổng công, sự cố gắng của tôi thật là vô ích!"

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Này các tỳ-kheo, nếu người con nhà tử tế ấy nỗ lực, cố gắng, ra sức như vậy và của cải thành tựu,

thì người ấy chịu khổ đau và buồn phiền vì phải giữ gìn của cải ấy:

"Làm sao để của cải của tôi không bị vua lấy, không bị kẻ trộm lấy, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn, không bị những người thừa kế không thương mến lấy đi?"

Dù người ấy giữ gìn và bảo vệ như vậy, của cải ấy vẫn bị vua lấy, bị kẻ trộm lấy, bị lửa đốt, bị nước cuốn, hoặc bị những người thừa kế không thương mến lấy đi.

Người ấy buồn bã, mệt mỏi, than khóc, đập ngực, kêu gào, rơi vào mê loạn:

"Những gì tôi từng có nay đã không còn!"

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, vua cãi nhau với vua, hàng vua chúa cãi nhau với hàng vua chúa, bà-la-môn cãi nhau với bà-la-môn, gia chủ cãi nhau với gia chủ; mẹ cãi nhau với con, con cãi nhau với mẹ; cha cãi nhau với con, con cãi nhau với cha; anh em cãi nhau với anh em; anh em cãi nhau với chị em; chị em cãi nhau với anh em; bạn bè cãi nhau với bạn bè.

Ở đó, khi đã dấn vào chuyện cãi cọ, xung đột, tranh chấp, họ xông vào nhau bằng nắm đấm, bằng đá, bằng gậy, bằng dao kiếm.

Ở đó, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ cầm khiên và gươm, giương cung và tên, lao vào trận chiến dàn quân hai phía, khi tên đang bay, giáo đang phóng, gươm đang lóe sáng.

Ở đó, họ bị bắn bằng tên, bị đâm bằng giáo, bị chém đầu bằng gươm.

Ở đó, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ cầm khiên và gươm, giương cung và tên, lao vào những lũy thành trát ướt, khi tên đang bay, giáo đang phóng, gươm đang lóe sáng.

[Chú thích: Addāvalepana nghĩa là trát một lớp bùn ướt lên lũy thành để chống lửa; chi tiết này cũng có ở SN 35.243.]

Ở đó, họ bị bắn bằng tên, bị đâm bằng giáo, bị hắt phân bò vào người, bị một lực lượng mạnh hơn giày xéo, bị chém đầu bằng gươm.

[Chú thích: Chakaṇakā thường được chú giải hiểu là phân bò đang sôi, nhưng tự thân từ này không nói lên điều đó, và các bản Hán tương ứng lại ghi là đồng nóng chảy hoặc sắt nóng chảy. Abhivagga chỉ xuất hiện ở đây trong tiếng Pali; chú giải nói đó là một thứ vũ khí trăm răng, còn bản dịch này hiểu là một lực lượng áp đảo.]

Ở đó, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ phá cửa vào nhà, cướp của, trộm những nhà riêng lẻ, phục kích trên đường, ngoại tình.

Các vua bắt họ và thi hành nhiều hình phạt khác nhau:

Họ đánh bằng roi, bằng dây, bằng gậy; chặt tay, chặt chân, chặt cả tay lẫn chân; cắt tai, cắt mũi, cắt cả tai lẫn mũi; thi hành hình phạt nồi cháo, cạo vỏ sò, miệng Rāhu, vòng hoa lửa, tay cháy, bện cói, áo vỏ cây, linh dương, móc thịt, đồng tiền, nước tro ăn da, cột xoay, chiếu rơm; tưới dầu sôi lên thân, cho chó ăn thịt, dựng sống trên cọc, chém đầu bằng gươm.

[Chú thích: Chú giải giải thích các tên hình phạt như sau: nồi cháo là mở nắp sọ rồi thả viên sắt nung vào cho óc sôi trào; cạo vỏ sò là mài sọ bằng sỏi cho nhẵn; miệng Rāhu là cạy miệng, nhét dầu và bấc rồi đốt cho cháy như mặt trời bị Rāhu nuốt; vòng hoa lửa là bôi dầu lên thân rồi châm lửa. Những tên còn lại cũng là các cách hành hạ thân xác tương tự, được kể theo cùng một lối.]

Ở đó, họ có thể gặp cái chết, hoặc nỗi khổ đau đến mức như chết.

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các dục, thấy ngay trong đời này, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vì dục làm nhân, vì dục làm duyên, vì dục làm cớ, chính vì dục, họ làm điều ác bằng thân, làm điều ác bằng lời, làm điều ác bằng ý.

Sau khi làm điều ác bằng thân, bằng lời, bằng ý, khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.

[Chú thích: Các mối nguy hại cứ tăng dần; ý ở đây là địa ngục còn khủng khiếp hơn những hình phạt vừa kể.]

Đó là mối nguy hại của các dục liên quan đến đời sau, là khối khổ do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm cớ, chính vì dục.

[Chú thích: Các mối nguy hại trước đây thuộc loại thấy ngay trong đời này (sandiṭṭhika), còn mối nguy hại này thuộc về đời sau (samparāyika).]

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thoát ra khỏi các dục?

Này các tỳ-kheo, sự từ bỏ và đoạn trừ lòng ham muốn và tham ái đối với các dục — đó là sự thoát ra khỏi các dục.

[Chú thích: Điều này xảy ra khi chứng quả Bất hoàn.]

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào không như thật biết rõ sự thích thú của các dục là sự thích thú, mối nguy hại của các dục là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các dục là sự thoát ra, thì không thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các dục, hay khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các dục.

Còn những sa-môn hay bà-la-môn nào như thật biết rõ sự thích thú của các dục là sự thích thú, mối nguy hại của các dục là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các dục là sự thoát ra, thì có thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các dục, và khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các dục.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thích thú của các sắc?

Này các tỳ-kheo, ví như một thiếu nữ dòng vua chúa, dòng bà-la-môn, hay dòng gia chủ, mười lăm hay mười sáu tuổi, không quá cao, không quá thấp, không quá gầy, không quá mập, không quá đen, không quá trắng — này các tỳ-kheo, phải chăng lúc ấy nàng là người đẹp và có dung sắc rạng ngời nhất?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh nhờ nét đẹp và dung sắc ấy —

đó là sự thích thú của các sắc.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là mối nguy hại của các sắc?

Ở đây, này các tỳ-kheo, sau đó các ông có thể thấy chính người nữ ấy — tám mươi, chín mươi hay một trăm tuổi — già nua, lưng còng như xà nhà, chân tay cong queo, chống gậy mà đi, run rẩy, bệnh tật, tuổi thanh xuân đã qua, răng sứt mẻ, tóc bạc, đầu hói trơ trọi, da nhăn nheo, thân thể nổi đầy vết đồi mồi.

[Chú thích: Pali gọi người nữ ấy là bhaginī, tức "chị em gái", một cách gọi gần gũi nhưng kính trọng, không mang nghĩa ái dục; cách gọi này cũng có ở SN 35.127 và MN 82.]

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao,

nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, các ông có thể thấy chính người nữ ấy bị bệnh, đau đớn, ốm nặng, nằm lăn trong nước tiểu và phân của chính mình, được người này nâng lên, người khác đặt xuống.


Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao,

nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, các ông có thể thấy chính người nữ ấy, một thân xác bị quăng bỏ nơi nghĩa địa —

đã chết một ngày, hai ngày hay ba ngày, trương phình, tím bầm, rữa nát.

[Chú thích: Như MN 10 cho thấy, phép quán này không nhằm coi thân xác người khác là đáng ghê tởm, mà nhằm nhận ra "nó" — chữ sarīra ở giống trung — chính là thân của mình.]

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao,

nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, các ông có thể thấy chính người nữ ấy, một thân xác bị quăng bỏ nơi nghĩa địa —

bị quạ ăn, bị diều hâu ăn, bị kền kền ăn, bị cò ăn, bị chó ăn, bị hổ ăn, bị báo ăn, bị chó rừng ăn, bị đủ loại sinh vật nhỏ bé ăn.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao, nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, các ông có thể thấy chính người nữ ấy, một thân xác bị quăng bỏ nơi nghĩa địa —

đã thành bộ xương còn thịt và máu, nối với nhau bằng gân; thành bộ xương không còn thịt nhưng còn vết máu, nối với nhau bằng gân; thành bộ xương không còn thịt cũng không còn máu, nối với nhau bằng gân; những khúc xương đã rời khỏi nhau, văng vãi khắp các phương —

chỗ này là xương tay, chỗ kia là xương chân, chỗ này là xương cổ chân, chỗ kia là xương ống chân, chỗ này là xương đùi, chỗ kia là xương hông, chỗ này là xương sườn, chỗ kia là xương sống, chỗ này là xương vai, chỗ kia là xương cổ, chỗ này là xương hàm, chỗ kia là xương răng, chỗ này là sọ đầu.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao, nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, các ông có thể thấy chính người nữ ấy, một thân xác bị quăng bỏ nơi nghĩa địa —

những khúc xương trắng, giống màu vỏ sò; những khúc xương chất thành đống, đã hơn một năm; những khúc xương mục rữa, vỡ vụn thành bột.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao,

nét đẹp và dung sắc trước kia đã biến mất, còn mối nguy hại đã hiện ra chăng?

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các tỳ-kheo, đó cũng là mối nguy hại của các sắc.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thoát ra khỏi các sắc?

Này các tỳ-kheo, sự từ bỏ và đoạn trừ lòng ham muốn và tham ái đối với các sắc — đó là sự thoát ra khỏi các sắc.

[Chú thích: Vì "sắc" còn gồm cả những hình ảnh vi tế trong thiền định, sự hiểu biết trọn vẹn các sắc chỉ xảy ra khi chứng quả A-la-hán.]

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào không như thật biết rõ sự thích thú của các sắc là sự thích thú, mối nguy hại của các sắc là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các sắc là sự thoát ra, thì không thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các sắc, hay khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các sắc.

Còn những sa-môn hay bà-la-môn nào như thật biết rõ sự thích thú của các sắc là sự thích thú, mối nguy hại của các sắc là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các sắc là sự thoát ra, thì có thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các sắc, và khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các sắc.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thích thú của các cảm thọ?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra.

[Chú thích: Đức Thế Tôn minh họa "cảm thọ" bằng những cảm thọ cao nhất và vi tế nhất có thể, tức cảm thọ trong thiền-na.]

Này các tỳ-kheo, vào lúc vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra, thì lúc ấy vị ấy không có ý nghĩ làm hại mình, không có ý nghĩ làm hại người khác, không có ý nghĩ làm hại cả hai;

lúc ấy vị ấy chỉ cảm nhận những cảm thọ không làm hại.

Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự không làm hại là sự thích thú tối thượng của các cảm thọ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo do tầm và tứ được lắng xuống, đạt đến sự an tịnh nội tâm, tâm chuyên nhất, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra. Này các tỳ-kheo, vào lúc vị tỳ-kheo do tầm và tứ được lắng xuống, đạt đến sự an tịnh nội tâm, tâm chuyên nhất, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra, thì lúc ấy vị ấy không có ý nghĩ làm hại mình, không có ý nghĩ làm hại người khác, không có ý nghĩ làm hại cả hai; lúc ấy vị ấy chỉ cảm nhận những cảm thọ không làm hại. Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự không làm hại là sự thích thú tối thượng của các cảm thọ.

Này các tỳ-kheo, vào lúc vị tỳ-kheo do hỷ đã phai nhạt, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, cảm thọ lạc bằng thân — điều mà các bậc thánh gọi là "trú xả, có chánh niệm, sống an lạc" — chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ ba, thì lúc ấy vị ấy không có ý nghĩ làm hại mình, không có ý nghĩ làm hại người khác, không có ý nghĩ làm hại cả hai; lúc ấy vị ấy chỉ cảm nhận những cảm thọ không làm hại. Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự không làm hại là sự thích thú tối thượng của các cảm thọ.

Này các tỳ-kheo, vào lúc vị tỳ-kheo do đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, và trước đó đã chấm dứt hỷ và ưu, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, thanh tịnh nhờ xả và chánh niệm, thì lúc ấy vị ấy không có ý nghĩ làm hại mình, không có ý nghĩ làm hại người khác, không có ý nghĩ làm hại cả hai;

lúc ấy vị ấy chỉ cảm nhận những cảm thọ không làm hại.

Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự không làm hại là sự thích thú tối thượng của các cảm thọ.

Và này các tỳ-kheo, cái gì là mối nguy hại của các cảm thọ?

Này các tỳ-kheo, các cảm thọ là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại của các cảm thọ.

[Chú thích: Đoạn này nói về giai đoạn thiền quán. Sau khi đã chứng thiền-na, hành giả quán chiếu rằng ngay cả những cảm thọ thù thắng ấy cũng vô thường.]

Và này các tỳ-kheo, cái gì là sự thoát ra khỏi các cảm thọ?

Này các tỳ-kheo, sự từ bỏ và đoạn trừ lòng ham muốn và tham ái đối với các cảm thọ — đó là sự thoát ra khỏi các cảm thọ.

[Chú thích: Điều này xảy ra khi chứng quả A-la-hán.]

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào không như thật biết rõ sự thích thú của các cảm thọ là sự thích thú, mối nguy hại của các cảm thọ là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các cảm thọ là sự thoát ra, thì không thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ, hay khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ.

Còn những sa-môn hay bà-la-môn nào như thật biết rõ sự thích thú của các cảm thọ là sự thích thú, mối nguy hại của các cảm thọ là mối nguy hại, sự thoát ra khỏi các cảm thọ là sự thoát ra, thì có thể có chuyện họ tự mình hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ, và khuyến khích người khác thực hành để hiểu biết trọn vẹn các cảm thọ.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Đại Khổ Uẩn, bài thứ ba, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: "Bài thứ ba" là ghi chú của người tụng, đánh dấu bài này đứng thứ ba trong phẩm Sư Tử Hống của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →