buppou

Trung Bộ Kinh · bài 29/152

Đại Kinh Lõi Cây

Mahāsāropama Sutta — bài kinh ví dụ lớn về lõi cây

24 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Lõi Cây (Mahāsāropama Sutta) là bài kinh thứ hai mươi chín trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài được giảng tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), ít lâu sau khi Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) rời Tăng đoàn. Devadatta là anh em họ của Đức Thế Tôn, từng xuất gia và đạt được những thành tựu thiền định đáng kể, nhưng lòng ham danh vọng đã làm hư hoại con đường của ông; ông mưu nắm lấy Tăng đoàn, bị Đức Thế Tôn quở trách, rồi chia rẽ Tăng đoàn và cuối cùng chết trong nhục nhã. Chính câu chuyện ấy là cái cớ để Đức Thế Tôn nói bài kinh này, và nó cũng là lời cảnh báo chạy suốt bài.

Hình ảnh trung tâm của bài là một người cần lõi cây. Một cây lớn có nhiều lớp: ngoài cùng là cành lá, rồi đến vỏ ngoài, rồi vỏ trong, rồi gỗ giác, và cuối cùng, sâu nhất, là lõi cây rắn chắc. Người cần lõi cây mà chặt cành lá đem về thì chỉ được thứ để đun; người chặt vỏ ngoài hay chặt gỗ giác cũng vậy, mang về một thứ không dùng được vào việc cần dùng. Lõi cây mới là thứ đáng lấy, và người biết mình cần gì thì không dừng lại trước khi lấy được nó. Hình ảnh này nối với sự tìm cầu cao quý trong Kinh Thánh Cầu và sự tìm con voi đực trong Tiểu Kinh Dấu Chân Voi: cả ba đều nói rằng mục đích thì cụ thể và không thể thỏa hiệp.

Bài kinh lần lượt kể năm hạng người. Hạng thứ nhất xuất gia vì lòng tin, nhưng khi được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng thì lấy đó làm đủ, tự đề cao mình, hạ thấp người khác, buông lung và sống trong khổ; đó là người nắm lấy cành lá. Hạng thứ hai không dừng ở lợi dưỡng, tu được giới, nhưng lại tự mãn vì giới của mình, khen mình chê người; đó là người nắm lấy vỏ ngoài. Hạng thứ ba tu được định, rồi dừng ở định; đó là người nắm lấy vỏ trong. Hạng thứ tư đạt được tri kiến, rồi dừng ở tri kiến; đó là người nắm lấy gỗ giác. Hạng thứ năm không dừng ở bất cứ thứ nào trong ấy, đi tới sự giải thoát bất thời của bậc A-la-hán; đó là người lấy được lõi cây, và một khi đã lấy được thì không còn thối thất khỏi nó.

Điều đáng chú ý là bài kinh không hề nói giới, định hay tri kiến là xấu. Chúng là những chặng phải đi qua, là thân cây chứ không phải lõi cây; thiếu chúng thì không thể tới được lõi. Cái nguy hiểm nằm ở chỗ dừng lại và tưởng mình đã xong, nhất là khi lòng tự mãn xen vào: thấy mình giữ giới hơn người, có định hơn người, hiểu biết hơn người. Mỗi lần như vậy là một lần lấy nhầm lớp vỏ và bỏ quên thứ mình đang tìm.

Bài khép lại bằng một câu ngắn: đời sống phạm hạnh này không lấy lợi dưỡng, cung kính và danh vọng làm mục đích, cũng không lấy sự thành tựu về giới, sự thành tựu về định hay tri kiến làm mục đích; mục đích của nó là tâm giải thoát bất động. Đó là lý do bài kinh mang tên Đại Kinh Lõi Cây, và cũng là lý do nó đáng đọc với người mới tìm hiểu đạo Phật: nó đặt một câu hỏi rất đời thường — mình đang theo đuổi điều gì, và mình đã dừng lại ở đâu trên đường.

[Chú thích của người dịch: Mahā là lớn, sāra là lõi cây, upama là ví dụ. Bài kinh mang tên ấy vì lấy chuyện người đi tìm lõi cây làm hình ảnh cho mục đích của đời sống phạm hạnh.]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), khi Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) rời đi chưa được bao lâu.

[Chú thích: Devadatta là anh em họ của Đức Thế Tôn và là kẻ chống đối Ngài; sau khi xuất gia cùng một số người thân, ông đạt được thành tựu thiền định nhưng bị lợi dưỡng và danh vọng làm hư hoại. Ông tìm cách nắm lấy Tăng đoàn nhưng bị Đức Thế Tôn quở trách, mưu chia rẽ Tăng đoàn thất bại, và cuối cùng ông chết trong nhục nhã.]

Tại đó, Đức Thế Tôn nhân chuyện Devadatta mà gọi các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Vị ấy hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây có lợi dưỡng, cung kính và danh vọng, còn các tỳ-kheo khác thì chẳng ai biết đến, không có uy thế."

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

[Chú thích: Bản Hán tương ứng (EA 43.4) nói bài kinh này được giảng vào lúc Devadatta đang được thái tử Ajātasattu (A-xà-thế) cúng dường rất hậu.]

Này các tỳ-kheo, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; gặp một cây lớn đứng sừng sững có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, rồi chặt cành lá mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

[Chú thích: Hãy so sánh sự tìm cầu cao quý trong Kinh Thánh Cầu (MN 26) và sự tìm con voi đực trong Tiểu Kinh Dấu Chân Voi (MN 27). Ở cả ba trường hợp, hình ảnh ví dụ đều nhấn mạnh rằng mục đích thì cụ thể và không thể thỏa hiệp, nên bài học là đừng dừng lại khi cuộc hành trình chưa thật sự hoàn tất.]

Một người có mắt sáng thấy vậy, sẽ nói rằng:

"Ông này thật không biết đâu là lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.

Chính vì thế, ông này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây mà lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ấy sẽ không đạt được kết quả ấy."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Vị ấy hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác: "Ta đây có lợi dưỡng, cung kính và danh vọng, còn các tỳ-kheo khác thì chẳng ai biết đến, không có uy thế."

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã nắm lấy cành lá của đời sống phạm hạnh,

và dừng lại ở đó.

Này các tỳ-kheo, lại nữa, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật.

Nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây có giới, có phẩm hạnh tốt, còn các tỳ-kheo khác thì phá giới, có phẩm hạnh xấu."

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; gặp một cây lớn đứng sừng sững có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, rồi chặt vỏ ngoài mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Một người có mắt sáng thấy vậy, sẽ nói rằng:

"Ông này thật không biết đâu là lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.

Chính vì thế, ông này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây mà lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây;

việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ấy sẽ không đạt được kết quả ấy."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật.

Nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.


Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây có giới, có phẩm hạnh tốt, còn các tỳ-kheo khác thì phá giới, có phẩm hạnh xấu."

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã nắm lấy vỏ ngoài của đời sống phạm hạnh,

và dừng lại ở đó.

Này các tỳ-kheo, lại nữa, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật.

Nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây có định, tâm nhất điểm, còn các tỳ-kheo khác thì không có định, tâm tán loạn."

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; gặp một cây lớn đứng sừng sững có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, rồi chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Một người có mắt sáng thấy vậy, sẽ nói rằng: "Ông này thật không biết đâu là lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.

Chính vì thế, ông này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây mà lại bỏ qua lõi cây, bỏ qua gỗ giác, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ấy sẽ không đạt được kết quả ấy."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây có định, tâm nhất điểm, còn các tỳ-kheo khác thì không có định, tâm tán loạn."

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã nắm lấy vỏ trong của đời sống phạm hạnh,

và dừng lại ở đó.

Này các tỳ-kheo, lại nữa, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật.

Nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.


Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được tri kiến.

[Chú thích: Tri kiến đi cùng với thực tại đúng như nó là (yathābhūta) chỉ sự thấy bốn sự thật cao quý ở quả Dự lưu, nhưng tự thân tri kiến thì không có nghĩa kỹ thuật ổn định. Trường Bộ Kinh 2 nói tri kiến là sự thấy thân này cùng với thức của nó, dù đoạn ấy hiếm và Trung Bộ Kinh 77 lại không gọi đó là tri kiến. Những chỗ khác dùng từ này theo nhiều nghĩa, để chỉ một thứ hiểu biết tâm linh trong sáng và sâu hơn.]

Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì tri kiến ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây sống với sự biết và thấy.

Còn các tỳ-kheo khác thì sống không biết, không thấy."

Vì tri kiến ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; gặp một cây lớn đứng sừng sững có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, rồi chặt gỗ giác mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Một người có mắt sáng thấy vậy, sẽ nói rằng:

"Ông này thật không biết đâu là lõi cây, không biết gỗ giác, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá.

Chính vì thế, ông này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây mà lại bỏ qua lõi cây, chặt gỗ giác mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.

Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ấy sẽ không đạt được kết quả ấy."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được tri kiến.

Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, tưởng mình đã toại nguyện.

Vì tri kiến ấy, vị ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác:

"Ta đây sống với sự biết và thấy, còn các tỳ-kheo khác thì sống không biết, không thấy."

Vì tri kiến ấy, vị ấy say đắm, buông lung, rơi vào phóng dật; vì phóng dật nên sống trong khổ.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã nắm lấy gỗ giác của đời sống phạm hạnh,

và dừng lại ở đó.

Này các tỳ-kheo, lại nữa, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được tri kiến.

Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì tri kiến ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì tri kiến ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được sự giải thoát bất thời.

[Chú thích: Sự giải thoát bất thời (asamaya, nghĩa đen là không có thời hạn) là quả A-la-hán, khác với sự giải thoát tạm thời của định, thứ mà người ta có thể mất đi vì hạnh kiểm xấu như trường hợp Devadatta. Văn bản chép không nhất quán: chỗ này là vimokkha (giải thoát) còn dòng sau là vimutti, trong khi các bài kinh khác luôn dùng vimutti; có lẽ khi các thành tựu này được đưa vào phẩm Vimokkha của Paṭisambhidāmagga thì chúng được đổi tên cho hợp văn mạch, rồi chú giải dẫn lại bằng vimokkha khiến văn bản bị lẫn. Ở đây dịch theo cách đọc vimutti, tuy cách đọc nào cũng không làm khác nghĩa thực hành.]


Này các tỳ-kheo, điều ấy không thể xảy ra, không có lẽ nào xảy ra: vị tỳ-kheo ấy lại thối thất khỏi sự giải thoát bất thời ấy.

Này các tỳ-kheo, ví như có người cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây; gặp một cây lớn đứng sừng sững có lõi cây, người ấy chỉ chặt đúng lõi cây mang đi, vì biết rõ đó là lõi cây.

Một người có mắt sáng thấy vậy, sẽ nói rằng:

"Ông này thật biết đâu là lõi cây, biết gỗ giác, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá.

Chính vì thế, ông này cần lõi cây, tìm kiếm lõi cây, đang đi tìm lõi cây mà chỉ chặt đúng lõi cây mang đi, vì biết rõ đó là lõi cây.

Việc gì phải dùng lõi cây mới làm được, ông ấy sẽ đạt được kết quả ấy."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, ở đây có một thiện nam tử vì lòng tin mà từ bỏ nhà cửa, xuất gia sống không nhà, nghĩ rằng:

"Tôi đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu muộn, than khóc, đau đớn, buồn rầu và tuyệt vọng; tôi chìm trong khổ, bị khổ vây hãm,

mong sao chấm dứt được toàn bộ khối khổ này."

Vị ấy xuất gia như vậy, rồi gây dựng được lợi dưỡng, cung kính và danh vọng.

Nhưng vị ấy không hoan hỷ với lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, cũng chưa toại nguyện.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì lợi dưỡng, cung kính và danh vọng ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được giới.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về giới ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về giới ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được định.

Vị ấy hoan hỷ với sự thành tựu về định ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì sự thành tựu về định ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được tri kiến.

Vị ấy hoan hỷ với tri kiến ấy, nhưng chưa toại nguyện.

Vì tri kiến ấy, vị ấy không tự đề cao mình, không hạ thấp người khác.

Vì tri kiến ấy, vị ấy không say đắm, không buông lung, không rơi vào phóng dật; nhờ không phóng dật, vị ấy thành tựu được sự giải thoát bất thời.

Này các tỳ-kheo, điều ấy không thể xảy ra, không có lẽ nào xảy ra: vị tỳ-kheo ấy lại thối thất khỏi sự giải thoát bất thời ấy.

Này các tỳ-kheo, như vậy đời sống phạm hạnh này không lấy lợi dưỡng, cung kính và danh vọng làm mục đích, không lấy sự thành tựu về giới làm mục đích, không lấy sự thành tựu về định làm mục đích, không lấy tri kiến làm mục đích.

Nhưng này các tỳ-kheo, chính tâm giải thoát bất động này —

[Chú thích: Chỗ này nối sự giải thoát bất thời với tâm giải thoát bất động của quả A-la-hán; hai thứ ấy được đặt ngang nhau ở Trung Bộ Kinh 122.]

đây là mục đích của đời sống phạm hạnh, đây là lõi cây, đây là chỗ tận cùng.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Mahāsāropama, bài thứ chín, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →