Trung Bộ Kinh · bài 36/152
Đại Kinh Saccaka
Mahāsaccaka Sutta — bài kinh dài hơn về Saccaka
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Saccaka (Mahāsaccaka Sutta) là bài kinh thứ 36 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài này mở đầu bằng một cuộc tranh luận và kết thúc bằng một câu chuyện tự thuật dài — hai phần ấy gắn với nhau chặt đến mức đọc hết mới thấy vì sao chúng nằm chung một bài.
Người tranh luận là Saccaka, một nhà hùng biện nổi tiếng đương thời, con của một gia đình Kỳ-na giáo. Ông ta đến gặp Đức Thế Tôn với một lập luận nghe rất hợp lý: có những người chỉ lo rèn luyện thân xác, có những người chỉ lo rèn luyện tâm; cả hai đều lệch. Đức Thế Tôn không phủ nhận sự lệch ấy, nhưng đổi hẳn trọng tâm câu chuyện: vấn đề không phải là hành hạ thân hay nuông chiều tâm, mà là tâm có bị cảm thọ lạc và khổ chiếm lấy hay không. Một câu hỏi ngược lại của Ngài — thế nào là tu tập tâm — làm Saccaka cứng họng, và đó là chỗ cuộc tranh luận quay ngoắt.
Phần lớn còn lại của bài là lời Đức Thế Tôn kể về chính mình. Ngài nhớ lại thuở còn là Bồ-tát, đã bỏ nhà ra đi, học với hai vị thầy đạt tới các tầng định cao nhất thời bấy giờ rồi thấy chúng không dẫn tới đâu, và cuối cùng lao vào con đường khổ hạnh tột độ: nín thở đến mức gió trong đầu xoáy như có người khoan, nhịn ăn đến mức da bụng dính vào xương sống. Ba thí dụ nổi tiếng về khúc gỗ tươi, khúc gỗ tươi để trên cạn, và khúc gỗ khô đã mục giải thích vì sao tất cả những nỗ lực ấy vô ích: lửa không thể bén khi gỗ còn ướt, và tâm còn ướt tham dục thì không thể bừng sáng dù thân bị hành hạ đến đâu.
Bước ngoặt đến từ một ký ức rất đời thường. Ngài nhớ lại buổi trưa thuở bé, ngồi trong bóng mát cây hồng táo khi vua cha đang làm việc, và tự nhiên nhập được tầng thiền đầu tiên — một niềm vui trong sạch, không dính gì đến dục lạc. Từ đó Ngài hiểu ra rằng niềm vui ấy không phải là thứ đáng sợ, và con đường đúng là con đường giữa: ăn uống đủ sức, rồi tuần tự đi vào bốn tầng thiền, rồi trong ba canh đêm chứng ba minh — nhớ lại các đời trước, thấy chúng sinh chết đi sinh lại theo nghiệp, và đoạn tận các lậu hoặc.
Điều đáng chú ý là Saccaka, dù bị khuất phục hoàn toàn, vẫn không quy y. Ông ta ra về sau khi tán thán, và bài kinh khép lại đúng như nó đã mở ra: một cuộc đối thoại, không phải một sự cải đạo. Bài này vì thế đọc như một chỉnh thể về phương pháp: muốn hiểu vì sao khổ hạnh thất bại, phải hiểu cả lập luận sai lầm lẫn câu chuyện có thật đã bác bỏ nó.
Bản dịch chia đoạn theo từng segment của SuttaCentral, nên người đọc có thể đối chiếu với bản Pali hoặc bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato ở bất cứ dòng nào. Các chỗ Pali viết tắt bằng dấu lược đều được viết ra đầy đủ, và những chú thích của người dịch được đánh dấu rõ.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú gần Vesālī (Tỳ-xá-li), tại rừng Mahāvana (Đại Lâm), trong giảng đường Kūṭāgārasālā (Trùng Các).
Lúc bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đã đắp y chỉnh tề, cầm bát và y, muốn vào Vesālī để khất thực.
Rồi Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, đang đi bộ cho giãn chân, đi tới đi lui, bèn đi đến giảng đường trong rừng Mahāvana.
[Chú thích: Bài kinh này có vẻ được đặt sau bài trước. Ở cả hai bài, Saccaka có khâm phục Đức Thế Tôn, nhưng không quy y và cũng không cho thấy ông đã bị thuyết phục.]
Tôn giả Ānanda thấy Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, từ đằng xa đi tới.
Thấy vậy, ngài bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, đang đi tới. Ông ta là kẻ hay tranh biện, tự cho mình là người trí, và được đông người kính trọng.
[Chú thích: Bhassappavādaka, "kẻ hay tranh biện", là một từ chỉ xuất hiện ở chỗ này. Còn paṇḍitavāda nghĩa là ra vẻ người trí, nói như người trí.]
Bạch Thế Tôn, ông ta muốn nói xấu Đức Thế Tôn, muốn nói xấu Pháp, muốn nói xấu Tăng đoàn.
Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn ngồi lại một lát vì lòng thương xót."
Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã được trải sẵn.
Rồi Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Sau khi đến, ông ta chào hỏi Đức Thế Tôn, trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, bạch Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, có một số sa-môn và bà-la-môn sống chuyên tâm vào việc tu tập thân, không tu tập tâm.
[Chú thích: Kāyabhāvanā, "tu tập thân", không phải thuật ngữ quen thuộc của Phật giáo; chính Saccaka đưa ra từ này ở đây. Nghĩa đen là "làm cho thân phát triển", nhưng trong mạch tranh luận nó chỉ lối hành hạ thân xác.]
Thưa ngài Gotama, họ phải chịu những cảm thọ khổ về thân.
Thưa ngài Gotama, thuở xưa đã từng có chuyện như vầy: khi một người bị cảm thọ khổ về thân xúc chạm, đùi của người ấy cứng đờ, tim như muốn vỡ ra, máu nóng trào ra từ miệng, và người ấy phát điên, loạn trí.
Thưa ngài Gotama, khi ấy tâm của người ấy đi theo thân, và bị thân chi phối.
Vì sao vậy?
Vì tâm chưa được tu tập.
Nhưng thưa ngài Gotama, có một số sa-môn và bà-la-môn sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm, không tu tập thân.
Thưa ngài Gotama, họ phải chịu những cảm thọ khổ về tâm.
Thưa ngài Gotama, thuở xưa đã từng có chuyện như vầy: khi một người bị cảm thọ khổ về tâm xúc chạm, đùi của người ấy cứng đờ, tim như muốn vỡ ra, máu nóng trào ra từ miệng, và người ấy phát điên, loạn trí.
Thưa ngài Gotama, khi ấy thân của người ấy đi theo tâm, và bị tâm chi phối.
Vì sao vậy?
Vì thân chưa được tu tập.
[Chú thích: Câu hỏi của Saccaka cho thấy ông biết rõ hiểm nguy của lối tu hành cực đoan và sự cần thiết của cân bằng. Điều này vẫn đúng ngày nay: những lối tu hành quá mức, mất cân bằng đều dẫn đến sụp đổ thân và tâm.]
Thưa ngài Gotama, tôi nghĩ rằng:
'Hẳn là các đệ tử của ngài Gotama sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm, không tu tập thân.'"
"Nhưng này Aggivessana, ông đã nghe nói gì về sự tu tập thân?"
"Đó là những vị như sau:
Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, Makkhali Gosāla —
[Chú thích: Ba vị này được nhắc là những bậc hiền triết nổi bật của phái Ājīvaka trong MN 76 và AN 6.57. Gosāla là một trong sáu vị đạo sư lỗi lạc thường được kể, còn hai vị kia thì không thấy ở đâu ngoài những chỗ nhắc thoáng qua như ở đây. Cách hành văn ở đoạn này cho thấy họ cũng là những người cùng thời với Đức Thế Tôn.]
thưa ngài Gotama, các vị ấy là những du sĩ lõa thể, không nề lề thói, liếm tay, không đến khi được gọi, không dừng lại khi được gọi, không nhận đồ ăn người ta mang đến, không nhận đồ ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời,
họ không nhận đồ ăn từ miệng nồi, không nhận từ miệng chậu, không nhận từ nhà có nuôi cừu, từ nhà có cây gậy, từ nhà có cái chày, không nhận từ chỗ hai người đang ăn, từ phụ nữ có thai, từ phụ nữ đang cho con bú, từ phụ nữ đang ở với đàn ông, không nhận ở nơi có chó đứng chực, nơi ruồi bu thành đàn; họ không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống men, không uống nước cơm chua.
Họ hoặc vào đúng một nhà, ăn đúng một miếng; hoặc vào hai nhà, ăn hai miếng; hoặc vào ba nhà, ăn ba miếng; hoặc vào bốn nhà, ăn bốn miếng; hoặc vào năm nhà, ăn năm miếng; hoặc vào sáu nhà, ăn sáu miếng; hoặc vào bảy nhà, ăn bảy miếng.
Họ sống nhờ đúng một chén, hoặc nhờ hai chén, hoặc nhờ ba chén, hoặc nhờ bốn chén, hoặc nhờ năm chén, hoặc nhờ sáu chén, hoặc nhờ bảy chén.
Họ ăn mỗi ngày một bữa, hoặc mỗi hai ngày một bữa, hoặc mỗi ba ngày một bữa, hoặc mỗi bốn ngày một bữa, hoặc mỗi năm ngày một bữa, hoặc mỗi sáu ngày một bữa, hoặc mỗi bảy ngày một bữa. Như vậy, họ sống chuyên tâm vào cách ăn theo hạn kỳ, cho đến nửa tháng mới ăn một lần."
[Chú thích: Văn bản Kỳ-na giáo cổ nhất kể rằng Mahāvīra chỉ ăn "mỗi bữa thứ sáu, thứ tám, thứ mười, hoặc thứ mười hai".]
"Nhưng này Aggivessana, họ có sống nổi với chừng ấy không?"
"Thưa ngài Gotama, không.
Thưa ngài Gotama, đôi khi họ ăn những món nhai thượng hạng, những món ăn thượng hạng, những món nếm thượng hạng, những thức uống thượng hạng.
Họ làm cho thân này sung sức, bồi đắp nó, và làm nó béo ra."
"Này Aggivessana, cái mà họ từ bỏ trước đây rồi về sau lại tích chứa — chính như vậy mà thân này có sự tăng lên và giảm đi.
Nhưng này Aggivessana, ông đã nghe nói gì về sự tu tập tâm?"
Khi được Đức Thế Tôn hỏi về sự tu tập tâm, Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, không trả lời được.
[Chú thích: Các văn bản trước thời Đức Thế Tôn có nói đến đời sống chiêm nghiệm và suy tư, nhưng không có chỉ dẫn thiền định rõ ràng. Dường như việc dạy thiền một cách minh bạch là một đóng góp mới của Đức Thế Tôn.]
Rồi Đức Thế Tôn nói với Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử:
"Này Aggivessana, cả cái sự tu tập thân mà ông vừa nói ấy cũng không phải là sự tu tập thân đúng Pháp trong giới luật của bậc thánh.
Này Aggivessana, ông còn không hiểu sự tu tập thân, thì làm sao ông hiểu được sự tu tập tâm?
Nhưng này Aggivessana, thế nào là người chưa tu tập thân và chưa tu tập tâm, thế nào là người đã tu tập thân và đã tu tập tâm —
hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, thưa ngài," Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này Aggivessana, thế nào là người chưa tu tập thân và chưa tu tập tâm?
Này Aggivessana, ở đây, với kẻ phàm phu không nghe Pháp, một cảm thọ lạc khởi lên.
Khi bị cảm thọ lạc xúc chạm, người ấy trở nên tham đắm trong lạc thọ và chìm vào tham đắm lạc thọ."
Rồi cảm thọ lạc ấy của người ấy diệt.
Do lạc thọ diệt, khổ thọ khởi lên.
Khi bị khổ thọ xúc chạm, người ấy sầu muộn, than khóc, kêu gào, đấm ngực, rơi vào mê loạn.
Này Aggivessana, với người ấy, cảm thọ lạc đã khởi lên cũng chiếm lấy tâm, vì thân chưa được tu tập; cảm thọ khổ đã khởi lên cũng chiếm lấy tâm, vì tâm chưa được tu tập.
Này Aggivessana, với bất cứ ai mà về cả hai phía, cảm thọ lạc đã khởi lên cũng chiếm lấy tâm vì thân chưa được tu tập, và cảm thọ khổ đã khởi lên cũng chiếm lấy tâm vì tâm chưa được tu tập — như vậy, này Aggivessana, là người chưa tu tập thân và chưa tu tập tâm."
"Và này Aggivessana, thế nào là người đã tu tập thân và đã tu tập tâm?
Này Aggivessana, ở đây, với bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp, một cảm thọ lạc khởi lên.
Khi bị cảm thọ lạc xúc chạm, người ấy không trở nên tham đắm trong lạc thọ, không chìm vào tham đắm lạc thọ.
Rồi cảm thọ lạc ấy của người ấy diệt.
Do lạc thọ diệt, khổ thọ khởi lên.
Khi bị khổ thọ xúc chạm, người ấy không sầu muộn, không than khóc, không kêu gào, không đấm ngực, không rơi vào mê loạn.
Này Aggivessana, với người ấy, cảm thọ lạc đã khởi lên cũng không chiếm lấy tâm, vì thân đã được tu tập; cảm thọ khổ đã khởi lên cũng không chiếm lấy tâm, vì tâm đã được tu tập.
Này Aggivessana, với bất cứ ai mà về cả hai phía, cảm thọ lạc đã khởi lên cũng không chiếm lấy tâm vì thân đã được tu tập, và cảm thọ khổ đã khởi lên cũng không chiếm lấy tâm vì tâm đã được tu tập — như vậy, này Aggivessana, là người đã tu tập thân và đã tu tập tâm."
"Thưa ngài Gotama, tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ngài Gotama.
Vì ngài Gotama đã tu tập thân và đã tu tập tâm."
"Này Aggivessana, lời ấy của ông quả là lời xúc phạm và khiêu khích.
[Chú thích: Đây là cách đáp quen thuộc khi có người tự tiện suy đoán về mức tu chứng của một vị thầy.]
Nhưng Ta vẫn sẽ trả lời ông.
Này Aggivessana, từ khi Ta cắt tóc râu, khoác y màu hoại sắc, xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà, thì chuyện một cảm thọ lạc đã khởi lên mà chiếm lấy tâm Ta, hay một cảm thọ khổ đã khởi lên mà chiếm lấy tâm Ta — điều ấy không thể xảy ra."
[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn không nói về sự giác ngộ, mà nói về quyết tâm bền bỉ của Ngài.]
"Hẳn là nơi ngài Gotama chưa từng khởi lên loại cảm thọ lạc nào mà, khi đã khởi lên, có thể chiếm lấy tâm; hẳn là nơi ngài Gotama chưa từng khởi lên loại cảm thọ khổ nào mà, khi đã khởi lên, có thể chiếm lấy tâm."
[Chú thích: Thành ngữ na hi nūna dùng để suy đoán chắc chắn về một điều đã xảy ra, ở đây mang sắc thái hoài nghi.]
"Sao lại không có, này Aggivessana?
Này Aggivessana, trước khi giác ngộ, khi còn là Bồ-tát, chưa chứng Chánh đẳng giác, Ta đã nghĩ rằng:
"Đời sống tại gia thì chật hẹp, là đường bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở.
Người sống trong nhà khó có thể sống đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc đã được mài sáng.
Vậy Ta hãy cắt tóc râu, khoác y màu hoại sắc, xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà.'
Này Aggivessana, về sau, khi Ta còn trẻ, tóc đen mượt, đang độ thanh xuân, ở tuổi đầu của đời người, tuy cha mẹ không bằng lòng, mặt đầm nước mắt, khóc than, Ta vẫn cắt tóc râu, khoác y màu hoại sắc, xuất gia từ đời sống tại gia sang đời sống không nhà.
Xuất gia như vậy rồi, Ta đi tìm cái gì là thiện, tầm cầu trạng thái tối thượng của an tịnh, và đi đến Āḷāra Kālāma. Sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
[Chú thích: Đoạn này tương ứng với MN 26, từ đoạn 14.1 trở đi.]
'Thưa Hiền giả Kālāma, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.'
Khi được nói vậy, này Aggivessana, Āḷāra Kālāma nói với Ta:
'Thưa Hiền giả, hãy ở lại.
Giáo pháp này là như vậy, đến mức một người có trí, không lâu sau, có thể tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú ngay trong giáo thuyết của bậc thầy mình.'
Này Aggivessana, không lâu sau, Ta đã nhanh chóng học thuộc giáo pháp ấy.
Này Aggivessana, chỉ với chừng ấy — vừa đủ mấp máy môi, vừa đủ lặp lại bằng lời — Ta nói lên lời tri kiến và lời của bậc trưởng lão; Ta tự nhận 'Ta biết, Ta thấy', và những người khác cũng vậy.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Āḷāra Kālāma không phải chỉ vì lòng tin suông mà tuyên bố rằng mình đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này.
Hẳn là Āḷāra Kālāma đang an trú với sự biết và thấy giáo pháp này.'
Này Aggivessana, rồi Ta đi đến Āḷāra Kālāma. Sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
'Thưa Hiền giả Kālāma, ngài đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này đến mức nào mà tuyên bố như vậy?'
Khi được nói vậy, này Aggivessana, Āḷāra Kālāma tuyên bố về xứ Vô sở hữu.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có lòng tin, Ta cũng có lòng tin;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có chánh niệm, Ta cũng có chánh niệm;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có định, Ta cũng có định;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma mới có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy Ta hãy nỗ lực chứng đạt chính giáo pháp mà Āḷāra Kālāma nói rằng mình đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú.'
Này Aggivessana, không lâu sau, Ta đã nhanh chóng tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp ấy.
Này Aggivessana, rồi Ta đi đến Āḷāra Kālāma. Sau khi đến, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
'Thưa Hiền giả Kālāma, có phải ngài đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố giáo pháp này đến mức ấy?'
'Đúng vậy, thưa Hiền giả, tôi đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố giáo pháp này đến mức ấy.'
'Thưa Hiền giả, tôi cũng đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này đến mức ấy.'"
"'Thật là lợi lạc cho chúng tôi, thưa Hiền giả, thật là điều may mắn cho chúng tôi, thưa Hiền giả,
khi chúng tôi được thấy một vị Hiền giả như ngài là bạn đồng tu với chúng tôi.
Giáo pháp mà tôi đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố, thì ngài cũng đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú;
giáo pháp mà ngài đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú, thì tôi cũng đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố.
Giáo pháp mà tôi biết thì ngài cũng biết; giáo pháp mà ngài biết thì tôi cũng biết.
Tôi thế nào thì ngài thế ấy, ngài thế nào thì tôi thế ấy.
Nào, thưa Hiền giả, nay hai chúng ta hãy cùng dẫn dắt hội chúng này.'
Này Aggivessana, như vậy Āḷāra Kālāma, tuy là thầy của Ta, lại đặt Ta, một học trò của ông, ngang hàng với chính ông, và tôn vinh Ta bằng sự cúng dường cao quý.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Giáo pháp này không dẫn đến nhàm chán, không dẫn đến ly tham, không dẫn đến diệt, không dẫn đến an tịnh, không dẫn đến thắng tri, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn; nó chỉ dẫn đến tái sinh vào xứ Vô sở hữu.'
Này Aggivessana, Ta không thấy giáo pháp ấy là đủ, nên nhàm chán nó và bỏ đi.
Này Aggivessana, Ta đi tìm cái gì là thiện, tầm cầu trạng thái tối thượng của an tịnh, và đi đến Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta:
'Thưa Hiền giả, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này.'
Khi được nói vậy, này Aggivessana, Udaka Rāmaputta nói với Ta:
'Thưa Hiền giả, hãy ở lại.
Giáo pháp này là như vậy, đến mức một người có trí, không lâu sau, có thể tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú ngay trong giáo thuyết của bậc thầy mình.'
Này Aggivessana, không lâu sau, Ta đã nhanh chóng học thuộc giáo pháp ấy.
Này Aggivessana, chỉ với chừng ấy — vừa đủ mấp máy môi, vừa đủ lặp lại bằng lời — Ta nói lên lời tri kiến và lời của bậc trưởng lão; Ta tự nhận 'Ta biết, Ta thấy', và những người khác cũng vậy.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Rāma không phải chỉ vì lòng tin suông mà tuyên bố rằng mình đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này.
Hẳn là Rāma đã an trú với sự biết và thấy giáo pháp này.'
Này Aggivessana, rồi Ta đi đến Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta:
'Thưa Hiền giả, Rāma đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này đến mức nào mà tuyên bố như vậy?'
Khi được nói vậy, này Aggivessana, Udaka Rāmaputta tuyên bố về xứ Phi tưởng phi phi tưởng.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Không phải chỉ Rāma mới có lòng tin, Ta cũng có lòng tin;
không phải chỉ Rāma mới có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn;
không phải chỉ Rāma mới có chánh niệm, Ta cũng có chánh niệm;
không phải chỉ Rāma mới có định, Ta cũng có định;
không phải chỉ Rāma mới có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy Ta hãy nỗ lực chứng đạt chính giáo pháp mà Rāma nói rằng mình đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú.'
Này Aggivessana, không lâu sau, Ta đã nhanh chóng tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp ấy.
Này Aggivessana, rồi Ta đi đến Udaka Rāmaputta. Sau khi đến, Ta nói với Udaka Rāmaputta:
'Thưa Hiền giả, có phải Rāma đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố giáo pháp này đến mức ấy?'
'Đúng vậy, thưa Hiền giả, Rāma đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố giáo pháp này đến mức ấy.'
'Thưa Hiền giả, tôi cũng đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú giáo pháp này đến mức ấy.'
'Thật là lợi lạc cho chúng tôi, thưa Hiền giả, thật là điều may mắn cho chúng tôi, thưa Hiền giả,
khi chúng tôi được thấy một vị Hiền giả như ngài là bạn đồng tu với chúng tôi.
Giáo pháp mà Rāma đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố, thì ngài cũng đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú; giáo pháp mà ngài đã tự mình thắng tri, chứng đạt và an trú, thì Rāma đã tự mình thắng tri, chứng đạt và tuyên bố.
Giáo pháp mà Rāma đã thắng tri thì ngài cũng biết; giáo pháp mà ngài biết thì Rāma đã thắng tri.
Rāma thế nào thì ngài thế ấy, ngài thế nào thì Rāma thế ấy.
Nào, thưa Hiền giả, nay chính ngài hãy dẫn dắt hội chúng này.'
Này Aggivessana, như vậy Udaka Rāmaputta, tuy là bạn đồng tu với Ta, lại đặt Ta vào vị trí bậc thầy, và tôn vinh Ta bằng sự cúng dường cao quý.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Giáo pháp này không dẫn đến nhàm chán, không dẫn đến ly tham, không dẫn đến diệt, không dẫn đến an tịnh, không dẫn đến thắng tri, không dẫn đến giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn; nó chỉ dẫn đến tái sinh vào xứ Phi tưởng phi phi tưởng.'
Này Aggivessana, Ta không thấy giáo pháp ấy là đủ, nên nhàm chán nó và bỏ đi.
Này Aggivessana, Ta đi tìm cái gì là thiện, tầm cầu trạng thái tối thượng của an tịnh, đi dần từng chặng qua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), và đến làng Senānigama ở Uruvelā (Ưu-lâu-tần-loa).
Ở đó, Ta thấy một vùng đất khả ái, một khu rừng đẹp đẽ, một dòng sông chảy trong mát với nước trong và bờ sông êm đẹp, và xung quanh có làng để đi khất thực.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Thật khả ái thay vùng đất này, khu rừng này thật đẹp đẽ, dòng sông này chảy trong mát với nước trong và bờ sông êm đẹp, và xung quanh có làng để đi khất thực."
"Chừng này là đủ cho một người con trai dòng họ tốt đẹp muốn tinh tấn, để tinh tấn.'
Này Aggivessana, Ta ngồi xuống ngay tại chỗ ấy, nghĩ rằng:
'Chỗ này là đủ để tinh tấn.'
Này Aggivessana, rồi ba thí dụ hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
[Chú thích: Đoạn này cũng có trong MN 85 và MN 100. Các thí dụ minh họa tầm quan trọng của sự lìa dục và sự vô ích của khổ hạnh cực đoan; theo một bản Phạn văn song song còn giữ được, chúng nằm sau phần khổ hạnh và trước thiền-na.]
Này Aggivessana, ví như một khúc gỗ tươi, còn nhựa, bị đặt trong nước.
Rồi có một người đến, mang theo một cây que cọ lửa, với ý định:
'Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho sức nóng hiện ra.'
Này Aggivessana, ông nghĩ sao,
người ấy cọ xát cây que cọ lửa vào khúc gỗ tươi còn nhựa ấy đang nằm trong nước, thì có thể tạo ra lửa, làm cho sức nóng hiện ra được không?"
[Chú thích: Abhimanthento ở đây phải là "cọ xát để khoan", chứ không phải "xoa" — xoa thì không sinh lửa. Hãy xem thêm thí dụ người ta khoan vào đầu ở đoạn 22.5.]
"Thưa ngài Gotama, không."
Vì sao vậy?
"Thưa ngài Gotama, vì đó là khúc gỗ tươi còn nhựa, mà lại còn bị đặt trong nước.
Người ấy chỉ chuốc lấy mệt nhọc và bực bội mà thôi."
"Cũng vậy, này Aggivessana, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào sống không lìa xa các dục về thân và về tâm, và tham dục, ái nhiễm, mê đắm, khát khao, nhiệt não đối với các dục nơi họ chưa được đoạn trừ hoàn toàn, chưa được làm cho lắng dịu hoàn toàn ở bên trong — thì dù các vị ấy có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác hay không, họ cũng không có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng.
Dù các sa-môn và bà-la-môn ấy không có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác, họ cũng không có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng.
Này Aggivessana, đó là thí dụ thứ nhất hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, rồi thí dụ thứ hai hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, ví như một khúc gỗ tươi, còn nhựa, bị đặt trên mặt đất khô, xa nước.
Rồi có một người đến, mang theo một cây que cọ lửa, với ý định:
'Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho sức nóng hiện ra.'
Này Aggivessana, ông nghĩ sao,
người ấy cọ xát cây que cọ lửa vào khúc gỗ tươi còn nhựa ấy đang nằm trên mặt đất khô xa nước, thì có thể tạo ra lửa, làm cho sức nóng hiện ra được không?"
"Thưa ngài Gotama, không."
Vì sao vậy?
"Thưa ngài Gotama, vì đó vẫn là khúc gỗ tươi còn nhựa, dẫu rằng nó nằm trên mặt đất khô xa nước.
Người ấy chỉ chuốc lấy mệt nhọc và bực bội mà thôi."
"Cũng vậy, này Aggivessana, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào sống lìa xa các dục về thân và về tâm, nhưng tham dục, ái nhiễm, mê đắm, khát khao, nhiệt não đối với các dục nơi họ chưa được đoạn trừ hoàn toàn, chưa được làm cho lắng dịu hoàn toàn ở bên trong — thì dù các vị ấy có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác hay không, họ cũng không có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng. Dù các vị ấy không có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác, họ cũng không có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng.
Này Aggivessana, đó là thí dụ thứ hai hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, rồi thí dụ thứ ba hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, ví như một khúc gỗ khô, đã mục, bị đặt trên mặt đất khô, xa nước.
Rồi có một người đến, mang theo một cây que cọ lửa, với ý định:
'Ta sẽ tạo ra lửa, Ta sẽ làm cho sức nóng hiện ra.'
Này Aggivessana, ông nghĩ sao,
người ấy cọ xát cây que cọ lửa vào khúc gỗ khô đã mục ấy đang nằm trên mặt đất khô xa nước, thì có thể tạo ra lửa, làm cho sức nóng hiện ra được không?"
"Thưa ngài Gotama, đúng vậy."
Vì sao vậy?
"Thưa ngài Gotama, vì đó là khúc gỗ khô đã mục, mà lại còn nằm trên mặt đất khô xa nước."
"Cũng vậy, này Aggivessana, bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào sống lìa xa các dục về thân và về tâm, và tham dục, ái nhiễm, mê đắm, khát khao, nhiệt não đối với các dục nơi họ đã được đoạn trừ hoàn toàn, đã được làm cho lắng dịu hoàn toàn ở bên trong — thì dù các vị ấy có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác hay không, họ cũng có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng. Dù các vị ấy không có cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác, họ cũng có khả năng đạt tri kiến, đạt sự giác ngộ tối thượng.
Này Aggivessana, đó là thí dụ thứ ba hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, đó là ba thí dụ hiện lên nơi Ta — không do ai mách bảo, mà cũng chưa từng được nghe trước đây.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy nghiến răng, đè lưỡi lên vòm miệng, và dùng tâm chế ngự tâm, ép chặt tâm, thiêu đốt tâm.'
[Chú thích: Đây là phép khổ hạnh nhẹ nhàng nhất trong các phép khổ hạnh, và Đức Thế Tôn thỉnh thoảng có khuyên dùng như một biện pháp cuối cùng (MN 20).]
Này Aggivessana, Ta nghiến răng, đè lưỡi lên vòm miệng, và dùng tâm chế ngự tâm, ép chặt tâm, thiêu đốt tâm.
Này Aggivessana, khi Ta nghiến răng, đè lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm, ép chặt tâm, thiêu đốt tâm, thì mồ hôi chảy ra từ hai bên nách.
Này Aggivessana, ví như một người lực lưỡng nắm lấy đầu hay vai của một người yếu hơn, rồi chế ngự, ép chặt, nghiền nát người ấy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta nghiến răng, đè lưỡi lên vòm miệng, dùng tâm chế ngự tâm, ép chặt tâm, thiêu đốt tâm, thì mồ hôi chảy ra từ hai bên nách.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy thực hành thiền-na không hơi thở.'"
[Chú thích: Lối thực hành này có vẻ là một hình thức cực đoan của phép điều khí, vốn là một yếu tố nổi bật của yoga về sau. Trong các văn bản trước thời Đức Thế Tôn, hơi thở có vai trò rất quan trọng nhưng không có phép thực hành nào được mô tả chi tiết.]
"Này Aggivessana, Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng và bằng mũi.
Này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng và bằng mũi, thì những luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai tạo thành một âm thanh rất lớn,
ví như âm thanh rất lớn của ống bễ lò rèn đang thổi vậy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng và bằng mũi, thì những luồng gió thoát ra từ hai lỗ tai tạo thành một âm thanh rất lớn.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy tiếp tục thực hành thiền-na không hơi thở.'
Này Aggivessana, Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai.
Này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những luồng gió mạnh cứ xoáy vào đầu Ta,
ví như một người lực lưỡng dùng một đầu nhọn sắc khoan vào đầu Ta vậy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những luồng gió mạnh cứ xoáy vào đầu Ta.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy tiếp tục thực hành thiền-na không hơi thở.'
Này Aggivessana, Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai.
Này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những cảm thọ khổ dữ dội khởi lên ở trong đầu Ta,
ví như một người lực lưỡng dùng một dải da dai và chắc thắt chặt quanh đầu Ta vậy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những cảm thọ khổ dữ dội khởi lên ở trong đầu Ta.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy tiếp tục thực hành thiền-na không hơi thở.'
Này Aggivessana, Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai.
Này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những luồng gió mạnh cứa xé bụng Ta,
ví như một người đồ tể khéo tay, hay học trò của ông ta, dùng con dao mổ bò sắc bén rạch bụng Ta vậy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì những luồng gió mạnh cứa xé bụng Ta.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy tiếp tục thực hành thiền-na không hơi thở.'
Này Aggivessana, Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai.
Này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì một sức nóng dữ dội khởi lên trong thân Ta,
ví như hai người lực lưỡng nắm lấy hai cánh tay của một người yếu hơn, rồi thiêu đốt, nung nấu người ấy trên một hầm than hồng vậy;
cũng vậy, này Aggivessana, khi Ta giữ chặt hơi thở ra vào bằng miệng, bằng mũi và bằng tai, thì một sức nóng dữ dội khởi lên trong thân Ta.
Này Aggivessana, tinh tấn của Ta đã được khởi lên, không hề lui sụt; chánh niệm đã an trú, không hề quên; nhưng thân Ta bị kích động, không được an tịnh, vì Ta đã bị chính sự tinh tấn khổ đau ấy xô đẩy.
Này Aggivessana, dù cảm thọ khổ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, rồi chư thiên thấy Ta và nói như vầy:
'Sa-môn Gotama đã chết.'
Một số chư thiên nói như vầy:
'Sa-môn Gotama không chết, nhưng đang cận kề cái chết.'
Một số chư thiên nói như vầy:
'Sa-môn Gotama không chết, cũng không cận kề cái chết. Sa-môn Gotama là bậc A-la-hán; cách trú ấy chính là cách trú của một bậc A-la-hán.'
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy thực hành việc cắt đứt hoàn toàn đồ ăn.'
Này Aggivessana, rồi chư thiên đến chỗ Ta và nói:
'Thưa Hiền giả, chớ thực hành việc cắt đứt hoàn toàn đồ ăn.
Nếu ngài thực hành việc cắt đứt hoàn toàn đồ ăn, chúng tôi sẽ đưa món ăn thiên giới vào các lỗ chân lông của ngài, và ngài sẽ sống nhờ món ấy.'"
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
"'Nếu Ta tự nhận là nhịn ăn hoàn toàn, trong khi chư thiên này lại đưa món ăn thiên giới vào các lỗ chân lông của Ta và Ta sống nhờ món ấy, thì đó là điều Ta nói dối.'
Này Aggivessana, Ta từ chối chư thiên ấy và nói: 'Thôi đủ rồi.'
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vậy Ta hãy ăn từng chút một, từng nắm một — hoặc nước đậu mugga, hoặc nước đậu kulattha, hoặc nước đậu kaḷāya, hoặc nước đậu hareṇuka.'
Này Aggivessana, Ta ăn từng chút một, từng nắm một — hoặc nước đậu mugga, hoặc nước đậu kulattha, hoặc nước đậu kaḷāya, hoặc nước đậu hareṇuka.
Này Aggivessana, do Ta ăn từng chút một, từng nắm một như vậy, thân Ta trở nên gầy ốm vô cùng.
Do ăn quá ít như vậy, các chi phần lớn nhỏ của Ta trở nên như các đốt xương của một cụ già tám mươi tuổi hay của một kẻ hấp hối;
do ăn quá ít như vậy, mông của Ta trở nên như móng chân lạc đà;
do ăn quá ít như vậy, xương sống của Ta nhô ra lởm chởm như một chuỗi hạt;
do ăn quá ít như vậy, xương sườn của Ta cong vênh, lởm chởm như những cây rường của một nhà kho cũ;
do ăn quá ít như vậy, tròng mắt của Ta lún sâu vào hốc mắt, như ánh nước lún sâu dưới đáy một cái giếng sâu;
do ăn quá ít như vậy, da đầu của Ta teo lại, khô héo như một quả bầu đắng còn tươi bị cắt lìa, bị gió và nắng làm cho quắt lại;
này Aggivessana, Ta muốn xoa da bụng thì lại nắm lấy xương sống, Ta muốn xoa xương sống thì lại nắm lấy da bụng — đến mức da bụng của Ta dính chặt vào xương sống, do ăn quá ít như vậy.
Này Aggivessana, Ta muốn đại tiện hay tiểu tiện thì ngã sấp xuống ngay tại chỗ, do ăn quá ít như vậy.
Này Aggivessana, Ta xoa bóp tay chân để làm dịu thân này; khi Ta xoa bóp tay chân, những sợi lông đã thối gốc rụng ra khỏi thân, do ăn quá ít như vậy.
Này Aggivessana, rồi có người thấy Ta và nói như vầy: 'Sa-môn Gotama da đen.'
Một số người nói như vầy: 'Sa-môn Gotama không đen, sa-môn Gotama da ngăm.'
Một số người nói như vầy: 'Sa-môn Gotama không đen, cũng không ngăm; sa-môn Gotama da xám xanh.'
[Chú thích: Maṅgura là màu da xám xanh, lốm đốm như màu bùn của loài cá trê, vốn có màu xanh bùn để lẩn mình dưới đáy sông.]
Này Aggivessana, da của Ta vốn trong sạch, sáng đẹp, đã bị hủy hoại đến mức ấy, do ăn quá ít như vậy.
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã cảm thọ những cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác — thì đây là mức tối đa, không thể vượt hơn.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời vị lai sẽ cảm thọ những cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác — thì đây là mức tối đa, không thể vượt hơn.
Bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào hiện nay đang cảm thọ những cảm thọ khổ đau, dữ dội, thô bạo, gay gắt do tự mình hành xác — thì đây là mức tối đa, không thể vượt hơn.
Nhưng này Aggivessana, với sự khổ hạnh cay đắng này, Ta đã không chứng đạt được pháp siêu việt của con người, sự thù thắng của tri kiến xứng đáng bậc thánh.
Vậy có thể có một con đường khác đến giác ngộ chăng?'
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Ta nhớ lại: khi thân phụ của Ta, người Sakya, đang làm công việc của mình, Ta đã ngồi trong bóng mát của cây hồng táo (jambu), và ly dục, ly các pháp bất thiện, Ta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, tức tầng thiền định thứ nhất, với tầm và tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh.
[Chú thích: Thiền-na nhẹ nhàng, dễ chịu ở đây được đặt đối lập với lối khổ hạnh nóng bỏng. Bồ-tát đã từng học thiền dưới các vị thầy cũ, nhưng ở đó thiền nằm trong một hệ thống triết lý mà về sau Ngài đã bỏ. Còn đây, Ngài nhớ lại việc nhập thiền với sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không theo hệ thống nào, và điều ấy cho thấy an tịnh của tâm là một tiến trình tự nhiên của buông bỏ.]
Đó có thể là con đường đến giác ngộ chăng?'
Này Aggivessana, một sự hiểu biết khởi lên nơi Ta, tiếp nối theo ký ức ấy:
'Đây chính là con đường đến giác ngộ.'
[Chú thích: So sánh Kinh Pháp Cú 274.]
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Vì sao Ta lại sợ hãi lạc ấy, khi lạc ấy không liên quan gì đến các dục và các pháp bất thiện?'
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Ta không sợ hãi lạc ấy, vì lạc ấy không liên quan gì đến các dục và các pháp bất thiện.'
Này Aggivessana, Ta nghĩ rằng:
'Không thể đạt được lạc ấy với một thân đã gầy ốm đến mức này. Vậy Ta hãy ăn đồ ăn thô đặc, cơm và cháo.'
[Chú thích: Chuyện Uddālaka hỏi Śvetaketu là bằng chứng cho sự lệ thuộc của tâm vào đồ ăn: sau mười lăm ngày không ăn, người ấy không còn nhớ nổi các bài tụng. Đoạn này cũng đối lập với vòng đói rồi béo mập đã mô tả ở trên.]
Này Aggivessana, Ta ăn đồ ăn thô đặc, cơm và cháo.
Này Aggivessana, lúc bấy giờ có năm vị tỳ-kheo hầu cận Ta, nghĩ rằng:
'Sa-môn Gotama sẽ nói cho chúng ta biết pháp nào mà ngài chứng đạt.'
Này Aggivessana, khi Ta ăn đồ ăn thô đặc, cơm và cháo, thì năm vị tỳ-kheo ấy nhàm chán Ta và bỏ đi, nói rằng:
'Sa-môn Gotama đã sống buông thả, đã lìa bỏ sự tinh tấn, đã trở lui về nếp sống sung sướng.'
Này Aggivessana, sau khi ăn đồ ăn thô đặc và lấy lại sức, Ta ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, với tầm và tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Với sự lắng dịu của tầm và tứ, Ta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ hai, có sự an tịnh bên trong, có sự nhất tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Do ly hỷ, Ta an trú với xả, có chánh niệm và tỉnh giác; Ta cảm nhận lạc bằng thân — điều mà các bậc thánh nói: 'Vị có xả, có chánh niệm, sống an trú trong lạc' — Ta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ ba.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Do đoạn trừ lạc và đoạn trừ khổ, và do sự lắng xuống của hỷ và ưu trước đây, Ta chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Khi tâm Ta đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — Ta hướng tâm đến tri kiến nhớ lại các đời sống quá khứ."
"Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một nghìn đời, một trăm nghìn đời; nhiều kiếp thành, nhiều kiếp hoại, nhiều kiếp thành và hoại. Ở chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, Ta sinh ra ở chỗ khác; ở chỗ khác ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, màu da như thế này, thức ăn như thế này, cảm thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, Ta sinh ra ở đây. Như vậy, Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, với đủ các nét và các chi tiết.
[Chú thích của người dịch: phần Pali ở đây viết tắt bằng dấu lược; bản dịch ghi đủ công thức quen thuộc về nhớ lại đời sống quá khứ.]
Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất mà Ta đã chứng đạt trong canh đầu của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã sinh; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh — như chuyện xảy ra với một người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Khi tâm Ta đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — Ta hướng tâm đến tri kiến về sự chết và sinh của chúng sinh.
Bằng thiên nhãn trong sạch, vượt khỏi tầm mắt của con người, Ta thấy chúng sinh chết đi và sinh lại, thấp kém và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; Ta hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình. Những chúng sinh nào thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, mắng nhiếc các bậc thánh, có tà kiến, thọ trì nghiệp theo tà kiến — sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Những chúng sinh nào thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, không mắng nhiếc các bậc thánh, có chánh kiến, thọ trì nghiệp theo chánh kiến — sau khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời.
[Chú thích của người dịch: phần Pali ở đây viết tắt bằng dấu lược; bản dịch ghi đủ công thức về hai loại chúng sinh đi theo nghiệp thiện và nghiệp ác.]
Này Aggivessana, đó là minh thứ hai mà Ta đã chứng đạt trong canh giữa của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã sinh; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh — như chuyện xảy ra với một người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Khi tâm Ta đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không vết nhơ, đã sạch các ô nhiễm, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — Ta hướng tâm đến tri kiến về sự đoạn tận các lậu hoặc.
Ta như thật biết rõ: 'Đây là khổ'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là sự tập khởi của khổ'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là sự diệt của khổ'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là con đường dẫn đến sự diệt của khổ'.
Ta như thật biết rõ: 'Đây là các lậu hoặc'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là sự diệt của các lậu hoặc'; Ta như thật biết rõ: 'Đây là con đường dẫn đến sự diệt của các lậu hoặc'.
Này Aggivessana, khi Ta biết như vậy, thấy như vậy, tâm Ta được giải thoát khỏi lậu hoặc về dục, tâm Ta được giải thoát khỏi lậu hoặc về hữu, tâm Ta được giải thoát khỏi lậu hoặc về vô minh.
Khi tâm đã giải thoát, khởi lên tri kiến: 'Tâm đã giải thoát.'
Ta như thật biết rõ: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đã chứng đạt trong canh cuối của đêm.
Vô minh đã bị diệt, minh đã sinh; bóng tối đã bị diệt, ánh sáng đã sinh — như chuyện xảy ra với một người sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Này Aggivessana, dù lạc thọ như vậy đã khởi lên nơi Ta, nó cũng không chiếm lấy tâm Ta.
Này Aggivessana, Ta nhớ lại đã từng thuyết Pháp cho một hội chúng đông đến hàng trăm người.
[Chú thích: Đoạn này chỉ có ở đây, và mục đích của nó trong mạch kinh không rõ.]
Và mỗi người đều nghĩ rằng:
'Sa-môn Gotama thuyết Pháp là nhắm riêng đến tôi.'
Này Aggivessana, nhưng điều ấy không nên hiểu như vậy.
Như Lai thuyết Pháp cho người khác chỉ nhằm mục đích làm cho họ hiểu.
Này Aggivessana, khi câu chuyện ấy vừa chấm dứt, Ta an lập tâm ngay bên trong, làm cho lắng dịu, làm cho nhất tâm, nhập định vào chính đề mục định ấy như trước — đề mục mà Ta thường xuyên an trú."
[Chú thích: Samādhinimitta ở đây, như thường lệ, nghĩa là đề mục thiền, có lẽ là hơi thở. Còn niccakappa, "liên tục, thường xuyên", chỉ xuất hiện ở đây và ở MN 144, nơi nó cũng mang nghĩa là đề mục quán niệm quen thuộc.]
"Điều ấy thật đáng tin nơi ngài Gotama, đúng như nơi một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
[Chú thích: Saccaka không nói rằng Đức Thế Tôn đã giác ngộ, mà chỉ nói Ngài giống như một người đã giác ngộ.]
Nhưng ngài Gotama có nhớ mình đã từng ngủ ban ngày không?"
[Chú thích: Ở đây Saccaka lộ rõ ý không thiện: ông ta muốn gài bẫy Đức Thế Tôn hơn là muốn học hỏi.]
"Này Aggivessana, Ta có nhớ: vào tháng cuối của mùa hạ, sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, Ta trải y saṅghāṭi gấp làm bốn và nằm xuống bên hông phải, có chánh niệm, có tỉnh giác."
"Thưa ngài Gotama, một số sa-môn và bà-la-môn gọi đó là cách trú trong si mê."
[Chú thích: Ông ta lảng tránh bằng cách viện đến người khác, đúng như ông ta đã làm ở MN 35.]
"Này Aggivessana, chừng ấy không đủ để nói một người là si mê hay không si mê.
Nhưng này Aggivessana, thế nào là người si mê và thế nào là người không si mê,
hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, thưa ngài," Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này Aggivessana, với bất cứ ai mà những lậu hoặc ô nhiễm, đưa đến tái sinh, đem theo sợ hãi, quả là khổ đau, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, chưa được đoạn trừ — Ta gọi người ấy là si mê.
Này Aggivessana, chính vì không đoạn trừ các lậu hoặc mà người ta si mê.
Này Aggivessana, với bất cứ ai mà những lậu hoặc ô nhiễm, đưa đến tái sinh, đem theo sợ hãi, quả là khổ đau, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ — Ta gọi người ấy là không si mê.
Này Aggivessana, chính vì đoạn trừ các lậu hoặc mà người ta không si mê.
Này Aggivessana, nơi Như Lai, những lậu hoặc ô nhiễm, đưa đến tái sinh, đem theo sợ hãi, quả là khổ đau, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ, đã bị chặt tận gốc, làm như gốc cây cọ bị chặt ngang, làm cho không còn hiện hữu, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.
Này Aggivessana, ví như một cây cọ bị chặt ngang ngọn thì không thể mọc lại được;
cũng vậy, này Aggivessana, nơi Như Lai, những lậu hoặc ô nhiễm, đưa đến tái sinh, đem theo sợ hãi, quả là khổ đau, dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai, đã được đoạn trừ, đã bị chặt tận gốc, làm như gốc cây cọ bị chặt ngang, làm cho không còn hiện hữu, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai."
Khi được nói vậy, Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, bạch Đức Thế Tôn:
"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Gotama! Thật hy hữu thay, thưa ngài Gotama!
Khi ngài Gotama bị công kích hết lần này đến lần khác bằng những lời lẽ xấc xược và khiêu khích, khi người ta dùng những lời thô lỗ để đối xử với ngài, thì da dẻ ngài lại càng sáng ra, sắc mặt ngài lại càng trong sáng — đúng như nơi một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Thưa ngài Gotama, tôi nhớ đã từng gây cuộc tranh luận với Pūraṇa Kassapa.
Ông ta, khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức.
Còn khi ngài Gotama bị công kích hết lần này đến lần khác bằng những lời lẽ xấc xược và khiêu khích, khi người ta dùng những lời thô lỗ để đối xử với ngài, thì da dẻ ngài lại càng sáng ra, sắc mặt ngài lại càng trong sáng — đúng như nơi một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Thưa ngài Gotama, tôi nhớ đã từng gây cuộc tranh luận với Makkhali Gosāla, du sĩ mang gậy tre. Ông ta, khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức.
Tôi nhớ đã từng gây cuộc tranh luận với Ajita Kesakambala. Ông ta, khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức.
Tôi nhớ đã từng gây cuộc tranh luận với Pakudha Kaccāyana. Ông ta, khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức.
Tôi nhớ đã từng gây cuộc tranh luận với Sañjaya Belaṭṭhaputta. Ông ta, khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức."
"Và du sĩ Ni-kiền-tử Nāṭaputta — tôi cũng đã gây cuộc tranh luận với ông ta.
[Chú thích: Điều này cho thấy dù có cha mẹ là tín đồ Kỳ-na giáo và dù vừa dẫn ra các vị Ājīvaka ở trên, Saccaka không phải là tín đồ của những triết thuyết ấy. Có vẻ trong lòng ông ta chỉ là kẻ thích chống đối.]
Ông ta cũng vậy: khi bị tôi gây chuyện tranh luận, đã lảng tránh sang chuyện khác, lôi cuộc nói chuyện ra ngoài đề, và bộc lộ giận dữ, sân hận, bực tức.
Còn khi ngài Gotama bị công kích hết lần này đến lần khác bằng những lời lẽ xấc xược và khiêu khích, khi người ta dùng những lời thô lỗ để đối xử với ngài, thì da dẻ ngài lại càng sáng ra, sắc mặt ngài lại càng trong sáng — đúng như nơi một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Thôi được, thưa ngài Gotama, nay chúng tôi xin đi.
Chúng tôi có nhiều việc, nhiều chuyện phải làm."
"Này Aggivessana, giờ ông hãy đi khi ông thấy thích hợp."
Rồi Saccaka, con của các du sĩ Ni-kiền-tử, hoan hỷ và tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Đại Kinh Saccaka, bài thứ sáu, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.