Trung Bộ Kinh · bài 145/152
Kinh Dạy Puṇṇa
Puṇṇovāda Sutta — lời khuyên dạy Tôn giả Puṇṇa
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Dạy Puṇṇa (Puṇṇovāda Sutta, quen gọi: Kinh Giáo Giới Phú Lâu Na) là bài kinh thứ 145 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh rất ngắn, chỉ khoảng tám mươi đoạn, và phần lớn là lời nói trực tiếp. Bối cảnh là khu rừng Jeta (Kỳ-đà) ngoại ô Sāvatthī (Xá-vệ), nơi Đức Thế Tôn đang trú. Một buổi chiều, sau giờ tĩnh cư, Tôn giả Puṇṇa (Phú Lâu Na) đến chỗ Ngài và xin một điều rất cụ thể: xin Ngài dạy mình thật vắn tắt, để rồi ông rút vào một nơi xa vắng mà sống và thực hành một mình.
Vì sao lại xin vắn tắt? Vì Puṇṇa đã chuẩn bị ra đi. Ông không xin một bài giảng dài để nghe dần, mà xin một lời dạy đủ chặt để mang theo làm hành trang. Đức Thế Tôn nhận lời, và lời dạy ấy chỉ xoay quanh một điểm: sáu giác quan và cách tâm phản ứng với những gì chúng tiếp xúc. Mắt gặp sắc, tai gặp âm thanh, mũi gặp mùi, lưỡi gặp vị, thân gặp xúc chạm, ý gặp các pháp. Những thứ ấy thường dễ chịu và đáng ưa. Nếu tâm ưa thích, hoan nghênh và bám chặt vào chúng, thì một niềm vui thích sinh khởi; và chính chỗ ấy, theo lời Ngài, là chỗ khổ bắt đầu. Ngược lại, nếu tâm không ưa thích, không hoan nghênh và không bám chặt, thì niềm vui thích ấy chấm dứt, và khổ cũng chấm dứt.
Đoạn nổi tiếng nhất của bài kinh nằm ở phần sau. Đức Thế Tôn hỏi Puṇṇa sẽ đi đâu; ông đáp là xứ Sunāparanta, một vùng đất xa xôi ở miền tây Ấn Độ. Ngài cảnh báo ngay: dân ở đó dữ dằn và thô lỗ. Rồi Ngài hỏi từng bước, như một bài tập: nếu họ mắng nhiếc và sỉ nhục ông thì sao? Nếu họ đánh ông bằng tay? Nếu họ ném đá? Nếu họ đánh bằng gậy? Nếu họ đâm bằng dao? Nếu họ cướp mạng sống của ông? Câu trả lời của Puṇṇa lần nào cũng theo một khuôn: ông sẽ nghĩ rằng những người ấy thật tốt lành, vì họ đã không làm mức độ nặng hơn. Đây không phải là cam chịu một cách ngây thơ, mà là một cách luyện tâm để không tự thêm vào cơn đau một lớp oán giận; người đọc hôm nay có thể thấy ở đây một bài học về sức chịu đựng và về việc giữ tâm không bị xô lệch khi gặp điều trái ý.
Đức Thế Tôn tán thán câu trả lời ấy và nhận rằng với sự điều phục và an tịnh như vậy, Puṇṇa sẽ sống được ở Sunāparanta. Ông lên đường, đến nơi, và trong chính mùa an cư ấy đã hướng dẫn khoảng năm trăm nam cư sĩ cùng khoảng năm trăm nữ cư sĩ, đồng thời tự mình chứng đắc ba minh, tức ba loại hiểu biết trực tiếp mà kinh điển ghi nhận nơi bậc A-la-hán: nhớ lại các đời sống trước, thấy chúng sinh chết đi và tái sinh theo nghiệp, và biết rõ mình đã đoạn tận các lậu hoặc. Về sau ông qua đời. Khi các tỳ-kheo hỏi Đức Thế Tôn về chỗ tái sinh của ông, Ngài đáp ngắn gọn: Puṇṇa là người sáng suốt, đã thực hành đúng theo Pháp, thuận hợp với Pháp, đã không làm Ngài phải bận lòng về chuyện Pháp, và đã nhập Niết-bàn.
Bài kinh này đáng đọc vì nó cho thấy giáo pháp được truyền đi như thế nào trong đời sống thật: một người xin lời dạy, nhận lấy, mang đi, sống theo, rồi truyền lại cho người khác. Nó cũng là một bài tập rất thực tế cho người mới tìm hiểu Phật pháp. Không có nghi lễ, không có giáo lý trừu tượng, chỉ có một câu hỏi đơn giản mà ai cũng gặp mỗi ngày: khi một điều dễ chịu hoặc khó chịu đến, tâm mình đang làm gì với nó? Bản dịch dưới đây theo sát từng đoạn của bản Pali, kể cả những chỗ lặp lại, vì nhịp lặp ấy chính là cách bài kinh dạy.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này cũng xuất hiện ở Tương Ưng Bộ 35.88, chỉ khác đôi chỗ ở phần mở đầu và phần kết. Ngoài hai bản tương ứng trong Hán tạng, câu chuyện còn được kể lại trong Luật tạng Mūlasarvāstivāda và trong Divyāvadāna, đồng thời xuất hiện trong nghệ thuật Phật giáo thời xưa.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi Tôn giả Puṇṇa (Phú Lâu Na), vào buổi chiều, sau khi ra khỏi chỗ tĩnh cư, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Puṇṇa thưa với Đức Thế Tôn:
[Chú thích: Vị Puṇṇa này khác với du sĩ người Koliya trong Trung Bộ 57 và với con trai bà Mantāṇī trong Trung Bộ 23. Ngoài bài này, ông chỉ còn xuất hiện ở một bài kệ trong Trưởng lão Tăng kệ (Thag 1.70).]
"Bạch Thế Tôn, lành thay, xin Đức Thế Tôn khuyên dạy con bằng một lời dạy vắn tắt, để sau khi nghe Pháp từ Đức Thế Tôn, con được sống một mình, xa lánh, không buông lơi, nhiệt tâm và quyết chí."
[Chú thích: Cách hiểu tĩnh cư như một kỳ nhập thất riêng chỉ phổ biến từ thế kỷ 20. Thời xưa, khi một vị tu sĩ thấy mình đã sẵn sàng, vị ấy đến xin thầy một lời dạy làm điểm tựa cho việc tu tập.]
"Vậy thì, này Puṇṇa, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Puṇṇa đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này Puṇṇa, có những sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
Nếu một tỳ-kheo ưa thích, hoan nghênh và cứ bám chặt vào chúng,
thì niềm vui thích sinh khởi trong vị đang ưa thích, hoan nghênh và bám chặt vào chúng.
'Này Puṇṇa, do niềm vui thích sinh khởi nên khổ sinh khởi', Ta nói như vậy.
Này Puṇṇa, có những âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
có những hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
có những vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
có những xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
có những pháp do ý nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
Nếu một tỳ-kheo ưa thích, hoan nghênh và cứ bám chặt vào chúng,
thì niềm vui thích sinh khởi trong vị đang ưa thích, hoan nghênh và bám chặt vào chúng.
'Này Puṇṇa, do niềm vui thích sinh khởi nên khổ sinh khởi', Ta nói như vậy.
Này Puṇṇa, lại có những sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
Nếu một tỳ-kheo không ưa thích, không hoan nghênh và không bám chặt vào chúng,
thì niềm vui thích chấm dứt trong vị không ưa thích, không hoan nghênh và không bám chặt vào chúng.
'Này Puṇṇa, do niềm vui thích chấm dứt nên khổ chấm dứt', Ta nói như vậy.
Này Puṇṇa, lại có những âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
lại có những hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
lại có những vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
lại có những xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái;
lại có những pháp do ý nhận biết, khả ái, đáng ước muốn, dễ chịu, đáng yêu, liên hệ đến dục, khơi dậy tham ái.
Nếu một tỳ-kheo không ưa thích, không hoan nghênh và không bám chặt vào chúng,
thì niềm vui thích chấm dứt trong vị không ưa thích, không hoan nghênh và không bám chặt vào chúng.
'Này Puṇṇa, do niềm vui thích chấm dứt nên khổ chấm dứt', Ta nói như vậy.
Này Puṇṇa, nay ông đã được Ta khuyên dạy bằng lời dạy vắn tắt này, vậy ông sẽ sống ở xứ nào?"
"Bạch Thế Tôn, con đã được Đức Thế Tôn khuyên dạy bằng lời dạy vắn tắt này. Có một xứ tên là Sunāparanta, con sẽ sống ở đó."
[Chú thích: Theo chú giải, Puṇṇa vốn sinh ra ở Sunāparanta, tại hải cảng Suppāraka, nay là Nallasopara ở phía bắc Mumbai, trên bờ biển phía tây Ấn Độ. Vùng này còn có tên khác là Aparanta, nghĩa là miền tây xa. Từ thời vua Ashoka, Suppāraka đã trở thành một trung tâm buôn bán lớn, có thuyền đi tới tận Lưỡng Hà, Ai Cập, Đông Phi và La Mã.]
"Này Puṇṇa, dân xứ Sunāparanta thì dữ dằn;
này Puṇṇa, dân xứ Sunāparanta thì thô lỗ.
Này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta mắng nhiếc và sỉ nhục ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta mắng nhiếc và sỉ nhục con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Dân xứ Sunāparanta này thật tốt lành, thật là tốt lành, vì họ không dùng tay đánh con.'
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Nhưng này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta dùng tay đánh ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng tay đánh con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Dân xứ Sunāparanta này thật tốt lành, thật là tốt lành, vì họ không ném đá vào con.'
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Nhưng này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta ném đá vào ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta ném đá vào con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Dân xứ Sunāparanta này thật tốt lành, thật là tốt lành, vì họ không dùng gậy đánh con.'
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Nhưng này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta dùng gậy đánh ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng gậy đánh con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Dân xứ Sunāparanta này thật tốt lành, thật là tốt lành, vì họ không dùng dao đâm con.'
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Nhưng này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao đâm ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao đâm con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Dân xứ Sunāparanta này thật tốt lành, thật là tốt lành, vì họ không dùng dao bén cướp mạng sống của con.'
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Nhưng này Puṇṇa, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao bén cướp mạng sống của ông, thì này Puṇṇa, ông sẽ nghĩ thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, nếu dân xứ Sunāparanta dùng dao bén cướp mạng sống của con, thì con sẽ nghĩ như vầy:
'Có những đệ tử của Đức Thế Tôn, vì kinh sợ, hổ thẹn và ghê tởm thân này cùng mạng sống này, mà đi tìm một thứ vũ khí lấy mạng. Thứ vũ khí lấy mạng ấy, con đã có được mà không phải đi tìm.'
[Chú thích: Đây là chuyện những tỳ-kheo quán bất tịnh sai cách đến mức tìm cái chết, được kể trong Luật tạng, mục Ba-la-di thứ ba, và trong Tương Ưng 54.9; Đức Thế Tôn đáp lại bằng phép niệm hơi thở. Chữ satthahāraka ở đây nghĩa là thứ mang đi mạng sống, tức vũ khí tự sát, chứ không phải kẻ cầm dao.]
Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vậy;
bạch Thiện Thệ, con sẽ nghĩ như vậy."
"Lành thay, lành thay, này Puṇṇa!
Này Puṇṇa, với sự điều phục và an tịnh này, ông sẽ sống được ở xứ Sunāparanta.
Này Puṇṇa, giờ ông hãy đi khi ông thấy thuận tiện."
Rồi Tôn giả Puṇṇa, sau khi hoan hỷ và tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo phía bên phải, rồi sắp xếp lại chỗ ở, cầm bát và y, lên đường đi về xứ Sunāparanta.
Đi từng chặng một, Tôn giả đến xứ Sunāparanta.
Tại đó, Tôn giả Puṇṇa sống ở xứ Sunāparanta.
Ngay trong mùa an cư ấy, Tôn giả Puṇṇa đã giúp khoảng năm trăm nam cư sĩ chứng ngộ; ngay trong mùa an cư ấy, Tôn giả đã giúp khoảng năm trăm nữ cư sĩ chứng ngộ; ngay trong mùa an cư ấy, Tôn giả đã chứng đắc ba minh.
Rồi một thời gian sau, Tôn giả Puṇṇa nhập Niết-bàn.
[Chú thích: Đoạn tương ứng ở Tương Ưng 35.88 lại nói rằng Tôn giả qua đời ngay trong mùa an cư ấy.]
Rồi nhiều tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ-kheo ấy thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, thiện nam tử tên là Puṇṇa, người đã được Đức Thế Tôn khuyên dạy bằng lời dạy vắn tắt, nay đã mạng chung.
Ông ấy sẽ đi về đâu, đời sau sẽ thế nào?"
"Này các tỳ-kheo, thiện nam tử Puṇṇa là người sáng suốt. Ông ấy đã thực hành đúng theo Pháp, thuận hợp với Pháp, và đã không làm Ta phải bận lòng về chuyện Pháp.
Này các tỳ-kheo, thiện nam tử Puṇṇa đã nhập Niết-bàn."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Dạy Puṇṇa, bài thứ ba, đến đây hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.