buppou

Trung Bộ Kinh · bài 48/152

Kinh Kosambī

Kosambiyasutta

17 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Kosambī (Kosambiyasutta) là bài kinh thứ 48 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh mở ra giữa một chuyện không đẹp: các tỳ-kheo cùng sống trong một tu viện ở Kosambī đang cãi nhau. Họ gây gổ, tranh chấp, dùng lời nói sắc nhọn đâm vào nhau, và không ai chịu nghe ai. Một tỳ-kheo đến báo với Đức Thế Tôn; Ngài gọi những người ấy đến và hỏi thẳng: có đúng là các ông đang làm như vậy không?

Câu hỏi ấy dẫn tới một nhận xét đơn giản mà khó chịu. Khi đang cãi nhau, người ta không còn đối xử với nhau bằng thân, lời nói và ý nghĩ tốt lành nữa. Đức Thế Tôn không chỉ trách; Ngài chỉ ra cái giá phải trả: những cuộc cãi vã như thế đưa đến sự bất lợi và khổ đau lâu dài.

Phần lớn bài kinh dành cho câu trả lời. Có sáu pháp, gọi là sáu pháp khả niệm, giữ cho một tập thể khỏi tan: làm điều tốt cho nhau bằng thân, bằng lời, bằng ý; chia sẻ những gì mình có; cùng giữ một nền giới; cùng nhìn mọi việc bằng một tri kiến đúng. Sáu điều này không phải mệnh lệnh từ trên xuống, mà là cách người ta nhớ tới nhau và nhờ đó mà gắn bó.

Trong sáu pháp ấy, bài kinh nói pháp đứng đầu là tri kiến. Ví như nóc nhà là chỗ cao nhất và là chỗ giữ các đầu kèo lại với nhau, tri kiến đúng giữ toàn bộ đời sống chung. Từ đây bài kinh chuyển sang một câu hỏi khác: tri kiến ấy dẫn người ta đến chỗ chấm dứt khổ như thế nào?

Câu trả lời là một chuỗi tự vấn của một người đã đứng vững trên đường. Vị ấy tự hỏi mình có còn bị tham, sân, hôn trầm, trạo cử, hoài nghi chi phối không; tri kiến này có thật đem lại sự an tịnh cho mình không; có ai khác có cùng cái thấy như mình không; mình có sống giống một người đã thành tựu tri kiến không, tức là biết lỗi thì nói ra ngay và vẫn thiết tha với sự tu học; và mình có nghe Pháp với tất cả tâm trí mình không. Bảy lần tự vấn, bảy lần hiểu rõ, và bài kinh gọi đó là bảy tuệ của bậc Dự lưu.

Với người chưa quen kinh điển, có thể đọc bài này như một bài học về cách một nhóm người giữ được nhau. Nó không hứa hòa hợp bằng cách né tránh va chạm; nó nói hòa hợp đến từ những việc rất cụ thể, làm hằng ngày, khi có mặt cũng như khi vắng mặt. Chuyện về sau của cuộc cãi vã ở Kosambī được Luật tạng kể tiếp; còn bài kinh này dừng lại ở lời dạy, với các tỳ-kheo hoan hỷ tán thán.

Kosambiyasutta — bài kinh về các tỳ-kheo ở Kosambī (Kiều-thưởng-di)


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Kosambī (Kiều-thưởng-di), trong tịnh xá của Ghosita.

Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo ở Kosambī đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau.

[Chú thích: Đây là cuộc cãi vã nổi tiếng ở Kosambī, cũng được nhắc tới ở MN 128:2.1. Diễn biến đầy đủ của vụ việc được chép trong Luật tạng, chương Khandhaka thứ mười.]

Họ không thể khuyên bảo được nhau, cũng không chịu để ai khuyên bảo mình; không thể làm cho nhau hiểu ra, cũng không chịu để ai làm cho mình hiểu ra.

Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

"Ở đây, bạch Thế Tôn, các tỳ-kheo ở Kosambī đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau. Họ không thể khuyên bảo được nhau, cũng không chịu để ai khuyên bảo mình; không thể làm cho nhau hiểu ra, cũng không chịu để ai làm cho mình hiểu ra."

Rồi Đức Thế Tôn gọi một tỳ-kheo:

"Này tỳ-kheo, ông hãy nhân danh Ta đi bảo các tỳ-kheo ấy rằng:

'Bậc Đạo sư gọi các vị.'"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," tỳ-kheo ấy vâng lời Đức Thế Tôn, rồi đi đến chỗ các tỳ-kheo kia; đến nơi, nói với họ:

"Bậc Đạo sư gọi các vị."

"Thưa vâng, hiền giả," các tỳ-kheo ấy vâng lời tỳ-kheo kia, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi các tỳ-kheo ấy đã ngồi một bên, Đức Thế Tôn nói với họ:

"Này các tỳ-kheo, có đúng thật là các ông đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau,

và các ông không thể khuyên bảo được nhau, cũng không chịu để ai khuyên bảo mình; không thể làm cho nhau hiểu ra, cũng không chịu để ai làm cho mình hiểu ra, có đúng thật vậy chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ sao,

khi các ông đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau, lúc ấy các ông có thân nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, có khẩu nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, có ý nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt chăng?"

"Bạch Thế Tôn, không phải vậy."

"Ra thế thì, này các tỳ-kheo, khi các ông đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau, lúc ấy các ông không có thân nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, không có khẩu nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt, không có ý nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Vậy thì, này những kẻ mê muội, các ông biết gì, thấy gì mà lại gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau, không thể khuyên bảo được nhau, cũng không chịu để ai khuyên bảo mình, không thể làm cho nhau hiểu ra, cũng không chịu để ai làm cho mình hiểu ra?

Này những kẻ mê muội, điều ấy sẽ đưa đến cho các ông sự bất lợi và khổ đau lâu dài."

Rồi Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, có sáu pháp khả niệm này, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

[Chú thích: Sáu pháp này còn được dạy ở MN 104:21.1, AN 6.11:1.1 và AN 6.12:1.1, và được tập hợp ở DN 33:2.2.37 và DN 34:1.7.3. "Khả niệm" nghĩa là đáng được nhớ tới, đáng được nhắc tới nhau.]

Sáu là những gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo có thân nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo có khẩu nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo có ý nghiệp từ ái đối với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, đối với những lợi lộc hợp pháp, có được đúng Pháp, cho đến cả những gì chỉ vừa đủ đựng trong bát, tỳ-kheo không hưởng dụng riêng mà chia sẻ, dùng chung với các bạn đồng tu có giới.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo sống theo những giới ấy, những giới không bị bẻ gãy, không bị rách, không bị vết, không bị đốm, đem lại tự do, được người có trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến định, và sống có chung nền giới ấy với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo sống theo tri kiến ấy, tri kiến cao thượng, có khả năng dẫn ra, dẫn người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau một cách đúng đắn, và sống có chung tri kiến ấy với các bạn đồng tu, cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt.

Pháp này cũng là pháp khả niệm, khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Này các tỳ-kheo, sáu pháp khả niệm này chính là những pháp khiến người ta thương mến nhau, kính trọng nhau, đưa đến sự gắn bó, đến sự không tranh cãi, đến sự hòa hợp, đến sự đồng lòng.

Này các tỳ-kheo, trong sáu pháp khả niệm này, pháp đứng đầu, pháp gắn kết, pháp kết dính tất cả lại, chính là tri kiến ấy: tri kiến cao thượng, có khả năng dẫn ra, dẫn người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau một cách đúng đắn.

Này các tỳ-kheo, ví như trong một ngôi nhà có nóc nhọn, phần đứng đầu, phần gắn kết, phần kết dính tất cả lại, chính là nóc nhà.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, trong sáu pháp khả niệm này, pháp đứng đầu, pháp gắn kết, pháp kết dính tất cả lại, chính là tri kiến ấy: tri kiến cao thượng, có khả năng dẫn ra, dẫn người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau một cách đúng đắn.

Và này các tỳ-kheo, tri kiến cao thượng, có khả năng dẫn ra ấy dẫn người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau một cách đúng đắn như thế nào?

Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một chỗ trống vắng, rồi suy xét như vầy:

'Có chăng nơi ta một sự chế ngự nào bên trong chưa được đoạn trừ, khiến cho ta vì tâm bị chế ngự bởi sự ấy mà không thể như thật biết, như thật thấy?'

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo bị tham dục chế ngự thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo bị sân hận chế ngự thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo bị hôn trầm thụy miên chế ngự thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo bị trạo cử hối quá chế ngự thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo bị hoài nghi chế ngự thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo mãi mê suy nghĩ về đời này thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo mãi mê suy nghĩ về đời sau thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.


Này các tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo đang gây gổ, cãi vã, tranh chấp, lấy lời nói nhọn như mũi giáo châm chích lẫn nhau thì tâm người ấy đúng là bị chế ngự.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Nơi ta không có sự chế ngự nào bên trong chưa được đoạn trừ, khiến cho ta vì tâm bị chế ngự bởi sự ấy mà không thể như thật biết, như thật thấy.

Tâm của ta đã được khéo định hướng để giác ngộ các sự thật.'

Đây là tuệ thứ nhất mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Khi ta thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tri kiến này, ta có tự mình đạt được sự an tịnh, tự mình đạt được sự tịch diệt chăng?'

Vị ấy hiểu như vầy:

'Khi ta thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tri kiến này, ta tự mình đạt được sự an tịnh, tự mình đạt được sự tịch diệt.'

Đây là tuệ thứ hai mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Với tri kiến mà ta đang có, bên ngoài giáo pháp này có sa-môn hay bà-la-môn nào khác cũng có tri kiến như thế chăng?'

Vị ấy hiểu như vầy:

'Với tri kiến mà ta đang có, bên ngoài giáo pháp này không có sa-môn hay bà-la-môn nào khác cũng có tri kiến như thế.'

Đây là tuệ thứ ba mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào thì ta cũng có bản tính như thế ấy chăng?'

Và này các tỳ-kheo, người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào?

Này các tỳ-kheo, bản tính của người thành tựu tri kiến là như vầy:

dù người ấy có phạm một lỗi thuộc loại còn có thể sửa được, tức là với lỗi ấy có cách để ra khỏi, thì người ấy liền trình bày, mở ra, phơi bày lỗi ấy với bậc Đạo sư hoặc với các bạn đồng tu có trí;

[Chú thích: Các lỗi trong Luật tạng chia thành nhiều loại, và vị xuất gia phạm lỗi phải thú nhận với các bạn đồng tu: một số lỗi được giải quyết ngay khi thú nhận, số khác phải qua thủ tục xả hay tạm treo. Phạm bốn lỗi nặng nhất là dâm dục, giết người, trộm cắp và nói dối về chứng đắc thì bị trục xuất ngay và vĩnh viễn. Một vị Dự lưu không thể phạm lỗi bị trục xuất, nhưng vẫn có thể phạm các lỗi khác mà không có ác ý.]

sau khi trình bày, mở ra, phơi bày như vậy, về sau người ấy tự thu thúc.

Này các tỳ-kheo, ví như một bé trai còn nhỏ, còn ngây thơ, còn nằm ngửa, nếu tay hay chân chạm phải than hồng thì liền rụt lại ngay.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, bản tính của người thành tựu tri kiến là như vầy:

dù người ấy có phạm một lỗi thuộc loại còn có thể sửa được, tức là với lỗi ấy có cách để ra khỏi, thì người ấy liền trình bày, mở ra, phơi bày lỗi ấy với bậc Đạo sư hoặc với các bạn đồng tu có trí;

sau khi trình bày, mở ra, phơi bày như vậy, về sau người ấy tự thu thúc.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào thì ta cũng có bản tính như thế ấy.'

Đây là tuệ thứ tư mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào thì ta cũng có bản tính như thế ấy chăng?'

Và này các tỳ-kheo, người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào?

Này các tỳ-kheo, bản tính của người thành tựu tri kiến là như vầy:

dù người ấy có dấn thân vào đủ mọi công việc lớn nhỏ vì các bạn đồng tu, người ấy vẫn tha thiết hướng tới sự học giới cao thượng, sự học tâm cao thượng, sự học tuệ cao thượng.

Này các tỳ-kheo, ví như con bò cái có con bê non, vừa gặm cỏ vừa ngóng chừng con mình.

[Chú thích: Động từ apacinati là một dạng bất quy tắc của apacāyati, nghĩa là "trông chừng" nhưng cũng có nghĩa là "kính trọng".]

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, bản tính của người thành tựu tri kiến là như vầy:

dù người ấy có dấn thân vào đủ mọi công việc lớn nhỏ vì các bạn đồng tu, người ấy vẫn tha thiết hướng tới sự học giới cao thượng, sự học tâm cao thượng, sự học tuệ cao thượng.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có bản tính như thế nào thì ta cũng có bản tính như thế ấy.'

Đây là tuệ thứ năm mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có sức mạnh như thế nào thì ta cũng có sức mạnh như thế ấy chăng?'

Và này các tỳ-kheo, sức mạnh của người thành tựu tri kiến là như thế nào?

Này các tỳ-kheo, sức mạnh của người thành tựu tri kiến là như vầy: khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố đang được giảng dạy, người ấy chú tâm, để tâm, dốc trọn tâm ý, tai hướng về mà nghe Pháp.

Vị ấy hiểu như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có sức mạnh như thế nào thì ta cũng có sức mạnh như thế ấy.'

Đây là tuệ thứ sáu mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử suy xét như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có sức mạnh như thế nào thì ta cũng có sức mạnh như thế ấy chăng?'

Và này các tỳ-kheo, sức mạnh của người thành tựu tri kiến là như thế nào?

Này các tỳ-kheo, sức mạnh của người thành tựu tri kiến là như vầy: khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố đang được giảng dạy, người ấy có được niềm vui về nghĩa, có được niềm vui về Pháp, có được niềm hoan hỷ gắn liền với Pháp.


Vị ấy hiểu như vầy:

'Người thành tựu tri kiến có sức mạnh như thế nào thì ta cũng có sức mạnh như thế ấy.'

Đây là tuệ thứ bảy mà người ấy chứng đắc, là tuệ bậc thánh, siêu thế, không chung với người phàm.

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử có đủ bảy chi như vậy thì bản tính của vị ấy đã được khéo suy xét nhờ sự chứng đắc quả Dự lưu.

[Chú thích: Thông thường cụm sotāpattiphalasacchikiriyāya ở dạng tặng cách, nghĩa là "để chứng đắc quả Dự lưu", nhưng ở đây không thể hiểu như vậy vì vị ấy đã là bậc Dự lưu. Bản chú giải đọc cụm này ở dạng công cụ cách.]

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử có đủ bảy chi như vậy là người thành tựu quả Dự lưu.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Bài kinh Kosambī, bài thứ tám, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →