buppou

Trung Bộ Kinh · bài 115/152

Kinh Nhiều Giới

Bahudhātuka Sutta — bài kinh về nhiều loại giới

28 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh này là bài thứ 115 trong Trung Bộ Kinh, tên Pali là Bahudhātuka Sutta, nghĩa đen là bài kinh nói về nhiều giới. Khung cảnh rất giản dị: tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong khu vườn rừng Jeta (Kỳ-đà), Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại. Không có vua chúa đến thăm, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, không có phép lạ nào được kể. Chỉ có một vị đệ tử là Ānanda (A-nan) hỏi hết câu này đến câu khác, và người thầy lần lượt trả lời. Hình thức ấy giống một buổi học hơn là một bài thuyết pháp: người hỏi không im lặng nghe mà chủ động mở từng cánh cửa, còn người dạy không giảng một mạch mà đi theo đúng câu hỏi. Cần nói ngay một điều về chữ "giới" trong tên bài. Trong tiếng Việt, người ta thường gặp chữ này trong "giới luật", tức các điều răn. Ở đây nó không có nghĩa ấy. Dhātu là thành tố, loại, phương diện, cái làm nên một thứ gì đó: đất, nước, lửa, gió là những giới của vật chất; lạc, khổ, hỷ, ưu là những giới của cảm thọ; dục và xuất ly, sân và không sân là những giới của tâm. Vì vậy "Kinh Nhiều Giới" là bài kinh dạy cách chia kinh nghiệm ra thành nhiều loại khác nhau để nhìn cho rõ, chứ không phải bài kinh về cách giữ giới.

Bài mở đầu bằng một câu nghe như châm ngôn: bất cứ hiểm họa nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí. Rồi Đức Thế Tôn đưa một hình ảnh rất cụ thể: một ngọn lửa bùng lên từ căn nhà tranh, từ căn nhà cỏ, rồi đốt cháy luôn cả tòa nhà lớn trát trong trát ngoài, kín gió, then cửa đã cài. Tòa nhà kiên cố ấy không tự bốc cháy; nó cháy vì ngọn lửa đến từ chỗ ọp ẹp bên cạnh. Cũng vậy, điều nguy hiểm không nằm ở người hiểu biết mà ở chỗ thiếu hiểu biết, và cái thiếu ấy lan từ người này sang cảnh vật, cả cộng đồng xung quanh. Cuối đoạn, Đức Thế Tôn rút ra một lời khuyên ngắn: các ông hãy học tập để trở thành người trí, thành bậc thẩm xét.

Từ đó Ānanda lần lượt hỏi: thế nào là một tỳ-kheo "thiện xảo về giới", "thiện xảo về xứ", "thiện xảo về duyên khởi", "thiện xảo về điều có thể và điều không thể". Bốn câu hỏi ấy là bốn vòng của bài kinh, và "Bốn Vòng" là một trong năm tên gọi mà Đức Thế Tôn gợi ý ở cuối bài. Phần về giới lại chia thành năm cách đếm khác nhau: mười tám giới, sáu giới, sáu giới khác, ba giới, hai giới. Thoạt nhìn, các danh sách ấy có vẻ chồng chéo. Nhưng chính chỗ chồng chéo là điều cần thấy: cùng một dòng kinh nghiệm có thể được cắt theo nhiều cách, và mỗi cách cắt làm nổi lên một phương diện mà cách khác che khuất. Mười tám giới là sáu cửa giác quan nhân với ba (cơ quan, đối tượng, cái biết); sáu giới là đất, nước, lửa, gió, không gian và thức; sáu giới cảm thọ là lạc, khổ, hỷ, ưu, xả và vô minh; sáu giới tâm là dục và xuất ly, sân và không sân, não hại và không não hại; ba giới là ba tầng đời sống; hai giới là cái được điều kiện tạo thành và cái không được điều kiện tạo thành.

Phần về xứ nói đến mười hai xứ, tức sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng. Phần về duyên khởi là chỗ sâu nhất: mười hai chi nối nhau từ vô minh đến già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rồi được đọc ngược lại để cho thấy khi các điều kiện không còn thì cả chuỗi cũng chấm dứt. Cách trình bày ở đây không phải một câu chuyện về vũ trụ, mà là một chuỗi điều kiện có thể quan sát ngay nơi thân và tâm mình: vì không biết rõ nên tâm tạo tác, vì tạo tác nên có cái biết, vì có cái biết nên có thân và tâm, cho đến khi có cảm thọ, có tham ái, có bám víu, và rồi lại có sinh, có già, có chết. Đọc xuôi là đọc sự hình thành của khổ; đọc ngược là đọc sự chấm dứt của nó.

Phần cuối, về điều có thể và điều không thể, là một danh sách dài những chuyện "không thể xảy ra". Có ba nhóm. Nhóm thứ nhất nói về những việc một người đã thành tựu kiến không thể làm: giết mẹ, giết cha, giết một bậc A-la-hán, làm chảy máu Như Lai, chia rẽ Tăng đoàn, nhận một bậc Đạo sư khác. Nhóm thứ hai nói về những bất khả của thế giới: hai vị Phật toàn giác không thể xuất hiện cùng lúc trong một hệ thế giới, hai vị Chuyển luân vương cũng vậy. Nhóm thứ ba là quy luật nhân quả: ác hạnh không thể cho quả ngọt, thiện hạnh không thể cho quả đắng, và một người không thể vì chính nghiệp ác của mình mà sinh lên cõi lành. Trong nhóm thứ hai có một đoạn nói rằng người nữ không thể là bậc Chánh đẳng giác, không thể là Chuyển luân vương, không thể giữ địa vị Sakka, Māra hay Phạm Thiên. Bản Hán tương đương của bài kinh này không có đoạn ấy, nên rất có thể đây là phần được thêm vào sau; và điều đáng nói là đoạn ấy không liên quan đến khả năng giải thoát, vì người nữ vẫn chứng quả A-la-hán như bao người khác. Bài kinh khép lại bằng năm tên gọi mà Đức Thế Tôn cho phép dùng để ghi nhớ: Nhiều Giới, Bốn Vòng, Tấm Gương Pháp, Trống Bất Tử, Chiến Thắng Tối Thượng.

Người đọc hôm nay có thể hỏi: một bài kinh toàn danh sách như thế thì ích gì? Câu trả lời nằm ở chữ "thiện xảo". Bài kinh không đòi người ta tin vào mười tám giới hay mười hai chi duyên khởi như một bản đồ siêu hình, mà đòi một kỹ năng: nhìn một cơn giận, một niềm vui, một ý nghĩ vừa nảy ra, và thấy đó là một thành tố đang sinh khởi do điều kiện, chứ không phải "tôi". Khi kinh nghiệm được nhìn như vậy, nó bớt đặc, bớt bền, và bớt là của mình. Đó là lý do bài kinh có tên "Tấm Gương Pháp": người ta soi vào đây để thấy chính mình, chứ không phải để thuộc lòng. Nếu muốn đọc trước, hãy bắt đầu từ đoạn mở về ngọn lửa và căn nhà tranh, rồi đi thẳng đến phần bốn vòng; phần duyên khởi nên đọc chậm, còn phần về điều có thể và điều không thể thì đọc như một bản tóm những gì không còn xảy ra khi cái thấy đã trong.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, bất cứ hiểm họa nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

[Chú thích: Paṇḍita thường chỉ người học rộng, chứ không hẳn là bậc hiền triết sống đời tu hành. Tiếng Pali có rất nhiều từ chỉ người khôn ngoan, và các nghĩa ấy không dễ phân biệt. Ở đây chữ này chỉ người tinh ý, biết quan sát và xét đoán đúng.]

Bất cứ tai họa nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

Bất cứ tai ương nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

Ví như, này các tỳ-kheo, một ngọn lửa bùng lên từ căn nhà làm bằng sậy hay bằng cỏ, rồi đốt cháy cả tòa nhà có nóc nhọn, trát trong trát ngoài, kín gió, then cửa đã cài, cửa sổ đã đóng.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, bất cứ hiểm họa nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

Bất cứ tai họa nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

Bất cứ tai ương nào sinh khởi, tất cả đều sinh khởi từ kẻ ngu, không phải từ người trí.

Như vậy, này các tỳ-kheo, kẻ ngu thì mang hiểm họa, người trí thì không mang hiểm họa.

Kẻ ngu thì mang tai họa, người trí thì không mang tai họa.

Kẻ ngu thì mang tai ương, người trí thì không mang tai ương.

Này các tỳ-kheo, không có hiểm họa nào đến từ người trí, không có tai họa nào đến từ người trí, không có tai ương nào đến từ người trí.

Vậy nên, này các tỳ-kheo: 'Chúng ta sẽ là những người trí, sẽ là những bậc thẩm xét.'

Chính vì thế, này các tỳ-kheo, các ông phải học tập như vậy.

Khi Ngài nói như vậy, Tôn giả Ānanda (A-nan) bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, một tỳ-kheo phải như thế nào thì mới xứng đáng được gọi là 'người trí, bậc thẩm xét'?

[Chú thích: Hãy để ý cách làm khác nhau của Ānanda và Sāriputta trong bài kinh trước. Sāriputta tiếp nhận lời dạy rồi tự triển khai, còn Ānanda dùng câu hỏi để chính Đức Thế Tôn nói tiếp.]

Này Ānanda, khi một tỳ-kheo thiện xảo về giới, thiện xảo về xứ, thiện xảo về duyên khởi và thiện xảo về điều có thể và điều không thể—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, một tỳ-kheo đã xứng đáng được gọi là 'người trí, bậc thẩm xét'.

Nhưng bạch Thế Tôn, một tỳ-kheo phải như thế nào thì mới xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

[Chú thích: Như bài kinh này nhấn mạnh, khái niệm 'giới' (dhātu) rất uyển chuyển: nó bao gồm nhiều loại thuộc tính, phẩm chất hay phương diện khác nhau của sự tồn tại.]

Này Ānanda, có mười tám giới này:

[Chú thích: Mười tám giới này chỉ được nhắc thêm hai lần trong kinh tạng (SN 14.1 và SN 41.2), nhưng xuất hiện hàng trăm lần trong Abhidhamma (Vi diệu pháp), nơi chúng được xếp thành một phần giáo lý riêng.]

giới mắt, giới hình sắc, giới thức của mắt;

giới tai, giới âm thanh, giới thức của tai;

giới mũi, giới mùi hương, giới thức của mũi;

giới lưỡi, giới vị, giới thức của lưỡi;

giới thân, giới xúc chạm, giới thức của thân;

giới ý, giới pháp, giới thức của ý.

[Chú thích: Kinh tạng không định nghĩa 'giới ý' (manodhātu). Theo Abhidhamma Vibhaṅga, giới ý sinh khởi ngay sau một cảm giác, hoặc ngay sau khi tâm tiếp xúc với các pháp; giới ý thức sinh khởi ngay sau giới ý tương ứng.]

Khi một tỳ-kheo biết và thấy mười tám giới này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Bạch Thế Tôn, có cách khác nữa không, để một tỳ-kheo xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

[Chú thích: Cách dựng một bài kinh dài bằng câu hỏi xin 'một cách nói khác' cũng được dùng ở MN 9, SN 44.6, AN 5.106 và Snp 3.12.]

Này Ānanda, có.

Này Ānanda, có sáu giới này:

địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới.

Khi một tỳ-kheo biết và thấy sáu giới này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Bạch Thế Tôn, có cách khác nữa không, để một tỳ-kheo xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

Này Ānanda, có.

Này Ānanda, có sáu giới này:

lạc giới, khổ giới, hỷ giới, ưu giới, xả giới, vô minh giới.

Khi một tỳ-kheo biết và thấy sáu giới này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Bạch Thế Tôn, có cách khác nữa không, để một tỳ-kheo xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

Này Ānanda, có.

Này Ānanda, có sáu giới này:

giới tham dục, giới xuất ly, giới sân hận, giới không sân hận, giới não hại, giới không não hại.

Khi một tỳ-kheo biết và thấy sáu giới này—


thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Bạch Thế Tôn, có cách khác nữa không, để một tỳ-kheo xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

Này Ānanda, có.

Này Ānanda, có ba giới này:

dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

[Chú thích của người dịch: Ba giới này là ba tầng của đời sống: tầng còn sống bằng các dục, tầng còn hình sắc vi tế, và tầng không còn hình sắc.]

Khi một tỳ-kheo biết và thấy ba giới này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Bạch Thế Tôn, có cách khác nữa không, để một tỳ-kheo xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'?

Này Ānanda, có.

Này Ānanda, có hai giới này:

hữu vi giới và vô vi giới.

[Chú thích của người dịch: Vô vi giới là Niết-bàn, tức pháp không do duyên tạo thành.]

Khi một tỳ-kheo biết và thấy hai giới này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về giới'.

Nhưng bạch Thế Tôn, một tỳ-kheo phải như thế nào thì mới xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về xứ'?

[Chú thích: Ānanda chuyển sang đề tài kế tiếp là sáu giác quan. Có lẽ chính việc vừa nhắc đến 'vô vi giới' của Niết-bàn đã gợi ra bước chuyển này, vì cách phân tích ấy đã đi đến chỗ tận cùng.]

Này Ānanda, có sáu xứ trong và ngoài này:

mắt và các hình sắc, tai và các âm thanh, mũi và các mùi hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc chạm, ý và các pháp.

Khi một tỳ-kheo biết và thấy sáu xứ trong và ngoài này—

thì chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, vị ấy đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về xứ'.

Nhưng bạch Thế Tôn, một tỳ-kheo phải như thế nào thì mới xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi'?

Này Ānanda, ở đây một tỳ-kheo hiểu rõ như vầy:

'Khi cái này có mặt, cái này có mặt; từ sự sinh khởi của cái này, cái này sinh khởi.

Khi cái này không có mặt, cái này không có mặt; từ sự diệt của cái này, cái này diệt, đó là:

do duyên vô minh, hành sinh khởi;

do duyên hành, thức sinh khởi;

do duyên thức, danh sắc sinh khởi;

do duyên danh sắc, sáu xứ sinh khởi;

do duyên sáu xứ, xúc sinh khởi;

do duyên xúc, thọ sinh khởi;

do duyên thọ, ái sinh khởi;

do duyên ái, thủ sinh khởi;

do duyên thủ, hữu sinh khởi;

do duyên hữu, sinh sinh khởi;

do duyên sinh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.

Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.

Nhưng chính nhờ vô minh được ly tham và diệt tận, không còn sót lại, nên hành diệt;

do hành diệt nên thức diệt;

do thức diệt nên danh sắc diệt;

do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt;

do sáu xứ diệt nên xúc diệt;

do xúc diệt nên thọ diệt;

do thọ diệt nên ái diệt;

do ái diệt nên thủ diệt;

do thủ diệt nên hữu diệt;

do hữu diệt nên sinh diệt;

do sinh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.

Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khối khổ này.'

Chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, một tỳ-kheo đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về duyên khởi'.

Nhưng bạch Thế Tôn, một tỳ-kheo phải như thế nào thì mới xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về điều có thể và điều không thể'?

[Chú thích: Sự thiện xảo này được nói là một trong mười sức mạnh của Như Lai (MN 12:10.1, AN 10.22:3.3) và chỉ có nơi người đã có định (AN 6.64:13.1). Từng mục ở đây, khi tách ra, chính là các bài AN 1.168 đến 295; những ví dụ ngắn hơn về lối nói này có ở MN 122:3.2, SN 12.30, AN 6.70 và AN 6.93. Tất cả đều xoay quanh nhân và quả trong sự phát triển con đường tu tập.]

Này Ānanda, ở đây một tỳ-kheo hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại xem một hành nào đó là thường. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Bậc Dự lưu trở lên vẫn có thể có lúc hành xử như thể một điều gì đó là thường, nhưng khi chịu khó xét lại thì biết ngay rằng không phải vậy.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu xem một hành nào đó là thường. Điều ấy có thể xảy ra.'


Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại xem một hành nào đó là lạc. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu xem một hành nào đó là lạc. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại xem một pháp nào đó là tự ngã. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu xem một pháp nào đó là tự ngã. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại giết mẹ mình. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Giết mẹ, giết cha, giết một bậc A-la-hán, làm chảy máu Như Lai và chia rẽ Tăng đoàn được gọi là năm tội nghịch, tức những nghiệp đặc biệt nặng, đưa đến tái sinh trong địa ngục.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu giết mẹ mình. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại giết cha mình. Điều ấy không thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu giết cha mình. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại giết một bậc A-la-hán. Điều ấy không thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu giết một bậc A-la-hán. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại với tâm ác làm chảy máu Như Lai. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu với tâm ác làm chảy máu Như Lai. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại chia rẽ Tăng đoàn. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu chia rẽ Tăng đoàn. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người đã thành tựu kiến lại nhận một bậc Đạo sư khác. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Điều này không có nghĩa là vị ấy không thể học nơi một vị thầy khác; vị ấy chỉ biết rằng con đường của Đức Thế Tôn đưa đến giải thoát, vì chính mình đã tự chứng nghiệm.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ phàm phu nhận một bậc Đạo sư khác. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: trong cùng một thế giới, hai bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác lại xuất hiện cùng lúc, không trước không sau. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Lokadhātu là một hệ thống riêng gồm một trái đất, mặt trời, mặt trăng, các hành tinh và một tập hợp cõi trời, nên gần với khái niệm 'hệ mặt trời'. Nhiều vị Phật có thể xuất hiện trong cùng một hệ thống ấy, nhưng không thể cùng lúc.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: trong cùng một thế giới, một bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác xuất hiện. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: trong cùng một thế giới, hai vị Chuyển luân vương lại xuất hiện cùng lúc, không trước không sau. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Chuyển luân vương được hình dung là người lập quyền thống trị trên toàn cõi đất từ biển này đến biển kia, tức thế giới văn minh theo quan niệm thời bấy giờ.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: trong cùng một thế giới, một vị Chuyển luân vương xuất hiện. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người nữ lại là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Không rõ vì sao chi tiết này được đưa vào, và bản Hán tương đương (MA 181) hoàn toàn không có đoạn này, nên có thể đây là phần thêm về sau. Đoạn này không liên quan đến khả năng tu chứng, vì người nữ hoàn toàn có thể chứng quả A-la-hán. Nhiều khả năng đây là cách nói phản ánh quan niệm của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ về những vị lãnh đạo, chứ không phải một nguyên lý của giáo pháp.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người nam lại là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người nữ lại là vị Chuyển luân vương. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người nam lại là vị Chuyển luân vương. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người nữ lại giữ địa vị Sakka. Điều ấy không thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người nữ lại giữ địa vị Māra. Điều ấy không thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người nữ lại giữ địa vị Phạm Thiên. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Các vị trời này tuy hiện ra như những cá nhân, nhưng được hiểu là những chức vị, ngôi vị lãnh đạo cõi của mình. Thí dụ, Moggallāna nói rằng trong một đời quá khứ ông từng làm Māra (MN 50:8.1).]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người nam lại giữ địa vị Sakka. Điều ấy có thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người nam lại giữ địa vị Māra. Điều ấy có thể xảy ra.' Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người nam lại giữ địa vị Phạm Thiên. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ ác hạnh về thân lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ ác hạnh về thân lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ ác hạnh về lời nói lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ ác hạnh về ý lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ ác hạnh về lời nói lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ ác hạnh về ý lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ thiện hạnh về thân lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ thiện hạnh về thân lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ thiện hạnh về lời nói lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: từ thiện hạnh về ý lại sinh ra quả báo không đáng ưa, không đáng yêu, không dễ chịu. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ thiện hạnh về lời nói lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: từ thiện hạnh về ý lại sinh ra quả báo đáng ưa, đáng yêu, dễ chịu. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một kẻ mang ác hạnh về thân, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Điều kiện 'do chính nhân ấy, do chính duyên ấy' (taṁnidānā tappaccayā) rất quan trọng, vì một người hoàn toàn có thể làm điều ác rồi về sau nhờ các nghiệp khác mà được tái sinh tốt. Trường hợp ấy được bàn ở MN 136:18.1.]

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ mang ác hạnh về thân, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một kẻ mang ác hạnh về lời nói, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một kẻ mang ác hạnh về ý, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ mang ác hạnh về lời nói, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một kẻ mang ác hạnh về ý, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người mang thiện hạnh về thân, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người mang thiện hạnh về thân, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người mang thiện hạnh về lời nói, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Điều ấy không thể có, không có cơ hội nào: một người mang thiện hạnh về ý, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi khổ, đường dữ, nơi đọa lạc, địa ngục. Điều ấy không thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người mang thiện hạnh về lời nói, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy có thể xảy ra.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Nhưng điều ấy có thể có, có cơ hội: một người mang thiện hạnh về ý, do chính nhân ấy, do chính duyên ấy, sau khi thân hoại mạng chung, lại sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều ấy có thể xảy ra.'

Chỉ bấy nhiêu đó, này Ānanda, một tỳ-kheo đã xứng đáng được gọi là 'tỳ-kheo thiện xảo về điều có thể và điều không thể'.

Khi Ngài nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn:


Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, hy hữu thay, bạch Thế Tôn!

Bài pháp này tên là gì, bạch Thế Tôn?

Vậy thì, này Ānanda, ông hãy ghi nhớ bài pháp này với tên 'Nhiều Giới', cũng hãy ghi nhớ với tên 'Bốn Vòng', cũng hãy ghi nhớ với tên 'Tấm Gương Pháp', cũng hãy ghi nhớ với tên 'Trống Bất Tử', cũng hãy ghi nhớ với tên 'Chiến Thắng Tối Thượng'.

[Chú thích: 'Bốn vòng' là bốn đề tài chính của bài: giới, xứ, duyên khởi, và điều có thể cùng điều không thể; ở chỗ khác, bốn vòng ấy được nói là bốn sự thật cao quý (SN 22.56:2.1). 'Tấm gương Pháp' là khả năng của bậc Thánh tự thấy chân lý của Pháp nơi chính mình (SN 55.8:5.1, DN 16:2.8.3). 'Trống bất tử' là tiếng trống Đức Thế Tôn đánh lên sau khi giác ngộ (MN 26:25.21), còn 'chiến thắng tối thượng' cũng là một tên gọi của Bát chánh đạo (SN 45.4:4.3).]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Nhiều Giới, bài thứ năm, đã hoàn tất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →