buppou

Trung Bộ Kinh · bài 118/152

Kinh Niệm Hơi Thở

Ānāpānassati Sutta — bài kinh về niệm hơi thở

35 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati Sutta) là bài kinh thứ 118 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài trong Kinh tạng Pali. Bài kinh lấy một việc ai cũng làm mỗi ngày — thở — làm đề tài tu tập, và chỉ cho thấy từ hơi thở ấy có thể đi đến tận cùng của sự giải thoát.

Bối cảnh bài kinh là một đêm trăng tròn cuối mùa an cư tại Sāvatthī (Xá-vệ). Đức Thế Tôn ngồi giữa trời, xung quanh là Tăng đoàn tỳ-kheo, trong đó có mười vị đại đệ tử nổi tiếng. Các vị trưởng lão đang khuyên bảo các tỳ-kheo mới, và nhiều người trong số họ đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Đức Thế Tôn nhìn hội chúng ấy, hài lòng, và dạy bài kinh này.

Phần chính của bài kinh là mười sáu bước niệm hơi thở, chia thành bốn nhóm bốn bước. Nhóm đầu đưa sự chú ý về hơi thở và thân: biết mình thở dài hay ngắn, cảm nhận toàn thân, làm lắng dịu hơi thở. Nhóm hai đi vào cảm giác: cảm nhận hỷ, cảm nhận lạc, cảm nhận các hoạt động của tâm (thọ và tưởng), làm lắng dịu các hoạt động ấy. Nhóm ba đi vào tâm: cảm nhận tâm, làm tâm hoan hỷ, đặt tâm vào định, giải thoát tâm. Nhóm bốn chuyển sang tuệ: quán vô thường, ly tham, diệt, từ bỏ.

Điều đáng chú ý là bài kinh không dừng ở mười sáu bước. Đức Thế Tôn còn chỉ ra rằng niệm hơi thở, khi được tu tập đầy đủ, sẽ làm viên mãn bốn niệm xứ — bốn lĩnh vực quán sát thân, thọ, tâm và pháp; bốn niệm xứ làm viên mãn bảy giác chi — bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ; bảy giác chi làm viên mãn minh và giải thoát. Nói cách khác, hơi thở không phải một kỹ thuật riêng lẻ mà là cánh cửa đi vào toàn bộ con đường tu tập.

Với người mới, bài kinh này có thể đọc như một bản hướng dẫn thực hành: ngồi yên ở nơi vắng, giữ thân thẳng, đặt chánh niệm trước mặt, rồi bắt đầu biết mình đang thở. Không cần cố gắng điều khiển hơi thở; chỉ cần nhận biết nó như nó đang là, từng hơi một. Bản dịch dưới đây giữ nguyên cách lặp của nguyên bản Pali, vì ở bài kinh này, sự lặp lại chính là cách Đức Thế Tôn dẫn người đọc đi sâu dần.

[Chú thích của người dịch: Tên Pali ghép từ ānāpāna (hơi thở vào và hơi thở ra) và sati (niệm, sự nhớ biết).]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Niệm hơi thở được dạy một phần trong Kinh Niệm Xứ (MN 10) và Kinh Niệm Thân (MN 119), dạy đầy đủ trong Đại Kinh Dạy Rāhula (MN 62), Kinh Girimānanda (AN 10.60) và Tương Ưng Niệm Hơi Thở (SN 54); kinh này cũng có trong Luật tạng và trong luận thư Paṭisambhidāmagga (Vô Ngại Giải Đạo). Truyền thống xem đây là pháp môn chính Đức Thế Tôn đã thực hành, và đến nay vẫn là phép thiền phổ biến nhất, cả trong Phật giáo lẫn ngoài Phật giáo.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), ở tu viện Đông Phương (Đông Viên), trong giảng đường của mẹ Migāra (Lộc Mẫu Giảng Đường), cùng với nhiều vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng, gồm có:

Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahāmoggallāna (Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahākassapa (Ca-diếp), Tôn giả Mahākaccāna (Ma-ha Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahākoṭṭhita (Ma-ha Câu-hy-la), Tôn giả Mahākappina (Ma-ha Kiếp-tần-na), Tôn giả Mahācunda (Ma-ha Chu-na), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ānanda (A-nan-đà), cùng nhiều vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng khác.

[Chú thích: Danh sách các vị đại đệ tử tương tự xuất hiện trong Ud 1.5, nơi Đức Thế Tôn gọi họ là những bà-la-môn chân chính.]

Lúc bấy giờ, các trưởng lão tỳ-kheo đang khuyên bảo và giáo huấn các tỳ-kheo mới.

[Chú thích: Điều này cho thấy những gì được ghi trong kinh không phải là toàn bộ những gì Đức Thế Tôn và các đệ tử đã dạy. Có nhiều chỗ kinh ghi lại những lời hướng dẫn thiền riêng tư hơn, như trong AN 9.3, nên việc khuyên bảo như vậy hẳn diễn ra thường xuyên.]

Có vị trưởng lão khuyên bảo và giáo huấn mười tỳ-kheo, có vị khuyên bảo hai mươi, ba mươi hay bốn mươi tỳ-kheo.

Các tỳ-kheo mới, được các trưởng lão khuyên bảo và giáo huấn như vậy, nhận ra sự tiến bộ cao thượng hơn trước.

[Chú thích: Kinh Tương Ưng 47.10 cũng ghi lại sự tiến bộ tương tự nơi các tỳ-kheo-ni.]

Lúc bấy giờ, nhằm ngày bố-tát (uposatha) rằm thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn của lễ tự tứ (pavāraṇā), Đức Thế Tôn đang ngồi giữa trời, được Tăng đoàn tỳ-kheo vây quanh.

[Chú thích: Đây là cuối mùa an cư mùa mưa, thời gian chư tăng ở yên một chỗ. Để kết thúc an cư, chư tăng tụ họp mời nhau khuyên bảo, nhằm dẹp những xung đột hay căng thẳng có thể đã phát sinh trong mùa an cư; việc này thay cho lễ tụng giới Pātimokkha thường lệ.]

Rồi Đức Thế Tôn nhìn quanh Tăng đoàn tỳ-kheo đang im lặng như tờ, rồi bảo các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, Ta đã hài lòng với con đường thực hành này.

Này các tỳ-kheo, tâm Ta đã hài lòng với con đường thực hành này.

Vậy nên, này các tỳ-kheo, các ông hãy khởi lên tinh tấn hơn nữa để đạt được điều chưa đạt, chứng được điều chưa chứng, thực chứng được điều chưa thực chứng.

Ta sẽ ở lại đây, tại Sāvatthī, chờ đến ngày trăng tròn Komudī của tháng thứ tư.

[Chú thích: Tháng thứ tư của mùa an cư, sau ba tháng an cư chính; sau đó chư tăng thường ở lại tu viện một thời gian để làm lễ kaṭhina, sửa y và chuẩn bị đi du hành. Tháng này nằm giữa ngày trăng tròn tháng Mười và tháng Mười Một, gọi là Kattikā theo tên chòm sao Tua Rua; ngày cuối của Kattikā là ngày trăng tròn Komudī, đặt theo tên hoa sen trắng nở vào lúc ấy.]

Các tỳ-kheo ở các miền quê nghe tin rằng:

Đức Thế Tôn sẽ ở lại ngay tại Sāvatthī, chờ đến ngày trăng tròn Komudī của tháng thứ tư.

Các tỳ-kheo ấy từ các miền quê lũ lượt kéo về Sāvatthī để được gặp Đức Thế Tôn.

Và các trưởng lão tỳ-kheo ấy lại càng khuyên bảo và giáo huấn các tỳ-kheo mới nhiều hơn nữa.

Có vị trưởng lão khuyên bảo và giáo huấn mười tỳ-kheo, có vị khuyên bảo hai mươi, ba mươi hay bốn mươi tỳ-kheo.

Các tỳ-kheo mới, được các trưởng lão khuyên bảo và giáo huấn như vậy, nhận ra sự tiến bộ cao thượng hơn trước.

Lúc bấy giờ, nhằm ngày bố-tát rằm thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn Komudī của tháng thứ tư, Đức Thế Tôn đang ngồi giữa trời, được Tăng đoàn tỳ-kheo vây quanh.

Rồi Đức Thế Tôn nhìn quanh Tăng đoàn tỳ-kheo đang im lặng như tờ, rồi bảo các tỳ-kheo:

[Chú thích: Một đoạn văn tương tự xuất hiện trong AN 4.190.]

Này các tỳ-kheo, hội chúng này không có trấu; này các tỳ-kheo, hội chúng này không có trấu; hội chúng này trong sạch, đã an trú nơi cốt lõi.

[Chú thích của người dịch: "Trấu" là lớp vỏ thóc vô dụng; ở đây chỉ những người không xứng đáng có mặt trong hội chúng.]

Này các tỳ-kheo, Tăng đoàn tỳ-kheo này là như vậy; này các tỳ-kheo, hội chúng này là như vậy.

Một hội chúng như vậy là nơi xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được nhận lễ vật, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước tối thượng cho thế gian.

Này các tỳ-kheo, Tăng đoàn tỳ-kheo này là như vậy; này các tỳ-kheo, hội chúng này là như vậy.

Với một hội chúng như vậy, cho ít thì thành nhiều, cho nhiều thì thành nhiều hơn nữa.

Này các tỳ-kheo, Tăng đoàn tỳ-kheo này là như vậy; này các tỳ-kheo, hội chúng này là như vậy.

Một hội chúng như vậy thật khó gặp trên đời.

Này các tỳ-kheo, Tăng đoàn tỳ-kheo này là như vậy; này các tỳ-kheo, hội chúng này là như vậy.

Một hội chúng như vậy đáng để người ta đi qua nhiều do-tuần đường chỉ để được gặp, dù phải mang theo bọc lương ăn.

[Chú thích: Puṭosa là bọc đựng lương ăn mang theo khi đi đường; bài kinh dùng hình ảnh ấy để nói rằng hội chúng này đáng để người ta chịu vất vả lặn lội đến gặp.]

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo là bậc A-la-hán, đã tận diệt lậu hoặc, đã sống trọn đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt mục đích của mình, đã đoạn trừ hoàn toàn kiết sử khiến còn tái sinh, và đã được giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo, do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn, không còn quay lại từ thế giới ấy nữa.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo, do đoạn tận ba kiết sử và làm cho tham, sân, si trở nên mỏng nhẹ, là bậc Nhất lai; chỉ trở lại thế gian này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo, do đoạn tận ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn khả năng đọa vào đường ác, nhất định hướng đến giác ngộ.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập bốn niệm xứ.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập bốn chánh cần.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập bốn thần túc.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập năm căn.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập năm lực.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập bảy giác chi.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập con đường tám chi phần cao quý (Bát chánh đạo).

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm từ.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm bi.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm hỷ.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập tâm xả.


Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập quán bất tịnh.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập tưởng vô thường.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này cũng có những tỳ-kheo như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong Tăng đoàn này có những tỳ-kheo đang sống chuyên tâm vào việc tu tập niệm hơi thở.

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở khi được tu tập và làm cho sung mãn thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

[Chú thích: Toàn bộ nội dung bài kinh được tóm trong bốn câu này; mỗi câu được triển khai thành một phần trong bốn phần tiếp theo.]

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở khi được tu tập và làm cho sung mãn thì làm viên mãn bốn niệm xứ.

Bốn niệm xứ khi được tu tập và làm cho sung mãn thì làm viên mãn bảy giác chi.

Bảy giác chi khi được tu tập và làm cho sung mãn thì làm viên mãn minh và giải thoát.

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo đi đến rừng, đến gốc cây, hay đến một chỗ trống vắng, rồi ngồi xuống, xếp chân bằng tròn, giữ thân thẳng, và đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích: Bối cảnh đi vào rừng cho thấy phép tu này nằm trong khung tu tập tuần tự nói chung; toàn bộ bài kinh có thể xem là phần triển khai của một câu ngắn trong Kinh Sa-môn Quả (DN 2).]

Vị ấy thở vào với chánh niệm; thở ra với chánh niệm.

[Chú thích: Đây là lời chỉ dẫn thiền căn bản nhất. Đức Thế Tôn không nói hãy tập trung vào hơi thở như một đối tượng, mà nói hãy đem chánh niệm đến với việc thở; các chặng thở không phải để cố ý tạo ra mà để quan sát và hiểu như tiến trình tự nhiên của thiền.]

Khi thở vào dài, vị ấy biết: "Tôi đang thở vào dài"; khi thở ra dài, vị ấy biết: "Tôi đang thở ra dài".

[Chú thích: Lúc mới bắt đầu, hơi thở còn thô. Bản Pali dùng lối nói "dài" và "ngắn" để chỉ hơi thở thô hay vi tế; tiếng Việt cũng có thể nói "thở mạnh" và "thở nhẹ".]

Khi thở vào ngắn, vị ấy biết: "Tôi đang thở vào ngắn"; khi thở ra ngắn, vị ấy biết: "Tôi đang thở ra ngắn".

[Chú thích: Càng về sau, hơi thở càng trở nên vi tế và nhẹ nhàng.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận toàn thân"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận toàn thân".

[Chú thích: "Toàn thân" ở đây chỉ hơi thở, đánh dấu sự nhận biết đầy đủ và liên tục hơn khi tâm đã lắng dịu. Một số người lại hiểu là toàn bộ thân vật lý, mở rộng sự nhận biết đến mọi chuyển động và sự lắng xuống của các khí lực trong thân.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm lắng dịu thân hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm lắng dịu thân hành".

[Chú thích: "Thân hành" ở đây chính là hơi thở; hơi thở có thể lắng dịu đến mức không còn nhận ra được nữa.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận hỷ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận hỷ".

[Chú thích: Hỷ là cảm xúc vui mừng trước một niềm an lạc, thường là cảm giác phấn khởi trong thiền. Thông thường hỷ khởi lên trước sự lắng dịu trên đường đi đến thiền-na; riêng trong niệm hơi thở, thân thường đã khá tĩnh lặng trước khi hỷ sinh khởi.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận lạc"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận lạc".

[Chú thích: Tính phấn khởi của hỷ lắng xuống thành một niềm vui vi tế, lan tỏa khắp thân tâm. Người tu làm mịn và ổn định những cảm xúc tích cực này trên đường đi đến thiền-na.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận tâm hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận tâm hành".

[Chú thích: "Tâm hành" là tưởng và thọ; thọ ở đây gồm cả hỷ và lạc. Trong thiền, tưởng có thể là ánh sáng hay các hình ảnh mà người tu thường gặp ở giai đoạn này; về sau, các luận thư gọi đó là tướng (nimitta), dấu hiệu tâm đang trở nên vi tế và các triền cái đang lắng xuống.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm lắng dịu tâm hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm lắng dịu tâm hành".

[Chú thích: Thiền có một nghịch lý: cảm giác càng mạnh thì về sau càng trở nên vi tế. Ở giai đoạn đầu, người tu thường gặp hỷ mãnh liệt, rơi lệ vui mừng, hay những hình ảnh lạ thường, và người mới dễ tưởng đó là chứng ngộ sâu xa. Với chánh niệm kiên nhẫn, thọ và tưởng lắng xuống, hợp nhất lại, đến mức như chỉ còn là trạng thái bình thường của tâm.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận tâm"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận tâm".

[Chú thích: Khi tâm hành lắng xuống, chính tâm trở nên trong sáng, là trung tâm nhận biết mọi điều đang diễn ra. Bốn bước tiếp theo tập trung vào kinh nghiệm thiền-na.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm cho tâm hoan hỷ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm cho tâm hoan hỷ".

[Chú thích: Điều này đặc biệt áp dụng cho hai tầng thiền-na đầu tiên.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi đặt tâm vào định"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi đặt tâm vào định".

[Chú thích: Định là sự tĩnh lặng sâu của thiền; từ này gợi nghĩa "tụ lại", "thu gọn", đồng thời có nghĩa "được thắp sáng". Nó nhấn mạnh cả sự vững vàng của tâm lẫn sự hợp nhất của mọi yếu tố tâm thức đang có.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi giải thoát tâm"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi giải thoát tâm".

[Chú thích: Trong thiền-na, tâm được giải thoát khỏi các triền cái. Trạng thái ấy vi tế đến mức được gọi là "niềm an lạc của giác ngộ", dù chỉ là tạm thời.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán vô thường"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán vô thường".

[Chú thích: Mười hai bước đầu thuộc về chỉ (samatha), bốn bước cuối chuyển sang quán (vipassanā), theo trình tự phổ biến nhất là chỉ trước quán. Ở đây, vô thường được quán ngay trong niệm hơi thở: các năng lượng nơi thân đã lắng và tan, rồi đến các tâm hành, rồi chính tâm được chuyển hóa. Người tu nhìn lại những thay đổi ấy và thấy không chỉ rằng có thay đổi, mà còn thấy thay đổi diễn ra do những nguyên nhân.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán ly tham"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán ly tham".

[Chú thích: Virāga vừa có nghĩa "ly tham", tức buông bỏ dục vọng, vừa có nghĩa "sự phai nhạt dần" của dục vọng ấy.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán diệt"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán diệt".

[Chú thích: Đây là sự chấm dứt vĩnh viễn các kiết sử và những khuynh hướng ngủ ngầm.]

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán từ bỏ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán từ bỏ".

[Chú thích: Đây là sự từ bỏ trọn vẹn mọi dục vọng thế gian, xảy ra khi chứng quả A-la-hán. Bốn bước cuối này còn có thể xếp vào bốn thánh quả: bậc Dự lưu thấy rằng cái gì có sinh thì có diệt; bậc Nhất lai có tham và sân đang phai nhạt; bậc Bất lai có tham và sân đã diệt; bậc A-la-hán từ bỏ mọi lậu hoặc.]

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì có quả lớn, có lợi ích lớn.

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì làm viên mãn bốn niệm xứ?

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thở vào dài và biết: "Tôi đang thở vào dài"; thở ra dài và biết: "Tôi đang thở ra dài".

Vị ấy thở vào ngắn và biết: "Tôi đang thở vào ngắn"; thở ra ngắn và biết: "Tôi đang thở ra ngắn".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận toàn thân"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận toàn thân".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm lắng dịu thân hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm lắng dịu thân hành".

Lúc ấy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng hơi thở vào và hơi thở ra là một phương diện của thân.

[Chú thích: Pali là "một thân nào đó trong các thân", nghĩa là hơi thở — một trong bốn đại — là một phương diện của thân được chọn để quán ở đây, chứ không phải các bộ phận của thân hay các oai nghi như trong bản trình bày đầy đủ về niệm xứ.]

Do đó, này các tỳ-kheo, lúc ấy vị tỳ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận hỷ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận hỷ".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận lạc"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận lạc".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận tâm hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận tâm hành".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm lắng dịu tâm hành"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm lắng dịu tâm hành".

Lúc ấy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo sống quán thọ trong các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng sự tác ý kỹ lưỡng đến hơi thở vào và hơi thở ra là một phương diện của thọ.

[Chú thích: Những cảm thọ dễ chịu của niệm hơi thở nằm trong toàn bộ phổ thọ được quán trong niệm xứ, gồm cả thọ khổ. Người tu chú tâm kỹ lưỡng vào các thọ ấy khi chúng biểu hiện nơi hơi thở; hơi thở không phải chỉ là hiện tượng vật lý, mà còn có chiều kích cảm xúc và nhận thức. Khi tiến trình vật lý trở nên vi tế, thọ hiện ra như một phương diện của hơi thở vốn đã có từ trước nhưng chưa được nhận rõ.]

Do đó, này các tỳ-kheo, lúc ấy vị tỳ-kheo sống quán thọ trong các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào với sự cảm nhận tâm"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra với sự cảm nhận tâm".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi làm cho tâm hoan hỷ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi làm cho tâm hoan hỷ".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi đặt tâm vào định"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi đặt tâm vào định".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi giải thoát tâm"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi giải thoát tâm".

Lúc ấy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng có niệm hơi thở nơi người thất niệm và thiếu tỉnh giác.

[Chú thích: Cách giải thích ở đây có khác, nhưng ý nghĩa không xa. Trong Kinh Niệm Xứ, quán tâm gồm cả những trạng thái tâm có tham, sân, si — những thứ mà người thất niệm và thiếu tỉnh giác đang trải qua; còn niệm hơi thở tập trung vào những trạng thái tâm đã được thanh lọc trong thiền sâu. Tầng thiền-na thứ ba được nói là có chánh niệm và tỉnh giác, còn tầng thứ tư có xả, là điều được nhấn ở bước tiếp theo.]

Do đó, này các tỳ-kheo, lúc ấy vị tỳ-kheo sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.


Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán vô thường"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán vô thường".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán ly tham"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán ly tham".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán diệt"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán diệt".

Vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở vào trong khi quán từ bỏ"; vị ấy luyện tập rằng: "Tôi sẽ thở ra trong khi quán từ bỏ".

Lúc ấy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo sống quán pháp trong các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Sau khi thấy bằng tuệ sự từ bỏ tham ưu ấy, vị ấy khéo nhìn lại với tâm xả.

[Chú thích: "Tham ưu" là những phiền não được đoạn trừ ngay trong niệm xứ. Đoạn này nói đến tuệ nhìn lại, xem xét toàn bộ tiến trình thiền, thấy phiền não được đoạn trừ thế nào và hiểu sự việc ấy xảy ra theo những nguyên lý nhân quả ra sao. Hiểu rồi thì tâm xả, vì không còn chấp giữ.]

Do đó, này các tỳ-kheo, lúc ấy vị tỳ-kheo sống quán pháp trong các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, niệm hơi thở được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì làm viên mãn bốn niệm xứ.

Này các tỳ-kheo, bốn niệm xứ được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì làm viên mãn bảy giác chi?

[Chú thích: Bảy giác chi nằm trong niệm xứ thứ tư, phần quán pháp. Ở đó, công dụng chính của chúng là loại trừ năm triền cái — điều thường được quán theo cách nhìn nhân quả trong các bài kinh về đề tài này. Vì vậy phần này triển khai chi tiết của "quán pháp".]

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời, thì lúc ấy chánh niệm của vị ấy được an lập và không quên mất.

Này các tỳ-kheo, khi nào chánh niệm của vị tỳ-kheo được an lập và không quên mất, thì lúc ấy giác chi niệm đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi niệm, và giác chi niệm đi đến viên mãn.

[Chú thích: Giác chi niệm ở đây có thể chỉ cho thiền quán, hoặc chỉ cho sự nhớ nghĩ đến giáo pháp.]

Vị ấy sống với chánh niệm như vậy, dùng tuệ để suy xét, phân tích và thẩm tra pháp ấy.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống với chánh niệm như vậy và dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, thì lúc ấy giác chi trạch pháp đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi trạch pháp, và giác chi trạch pháp đi đến viên mãn.

[Chú thích: Pháp ở đây có thể chỉ những nguyên lý nhân quả, hoặc chỉ giáo pháp được nhớ nghĩ đến.]

Khi vị ấy dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không hề thối lui.

Này các tỳ-kheo, khi nào tinh tấn của vị tỳ-kheo được khởi lên, không hề thối lui, thì lúc ấy giác chi tinh tấn đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi tinh tấn, và giác chi tinh tấn đi đến viên mãn.

Khi đã khởi lên tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị ấy.

Này các tỳ-kheo, khi nào hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị tỳ-kheo đã khởi lên tinh tấn, thì lúc ấy giác chi hỷ đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi hỷ, và giác chi hỷ đi đến viên mãn.

Với người có tâm đầy hỷ, thân lắng dịu và tâm cũng lắng dịu.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có tâm tràn đầy hỷ, và thân cùng tâm đều lắng dịu, thì lúc ấy giác chi khinh an đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi khinh an, và giác chi khinh an đi đến viên mãn.

Với người có thân đã lắng dịu và đang cảm thọ lạc, tâm nhập định.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có thân đã lắng dịu, đang cảm thọ lạc, và tâm nhập định, thì lúc ấy giác chi định đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi định, và giác chi định đi đến viên mãn.

Vị ấy khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả, thì lúc ấy giác chi xả đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi xả, và giác chi xả đi đến viên mãn.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống quán thọ trong các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời, thì lúc ấy chánh niệm của vị ấy được an lập và không quên mất. Này các tỳ-kheo, khi nào chánh niệm của vị tỳ-kheo được an lập và không quên mất, thì lúc ấy giác chi niệm đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi niệm, và giác chi niệm đi đến viên mãn. Vị ấy sống với chánh niệm như vậy, dùng tuệ để suy xét, phân tích và thẩm tra pháp ấy. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống với chánh niệm như vậy và dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, thì lúc ấy giác chi trạch pháp đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi trạch pháp, và giác chi trạch pháp đi đến viên mãn. Khi vị ấy dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không hề thối lui. Này các tỳ-kheo, khi nào tinh tấn của vị tỳ-kheo được khởi lên, không hề thối lui, thì lúc ấy giác chi tinh tấn đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi tinh tấn, và giác chi tinh tấn đi đến viên mãn. Khi đã khởi lên tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị ấy. Này các tỳ-kheo, khi nào hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị tỳ-kheo đã khởi lên tinh tấn, thì lúc ấy giác chi hỷ đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi hỷ, và giác chi hỷ đi đến viên mãn. Với người có tâm đầy hỷ, thân lắng dịu và tâm cũng lắng dịu. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có tâm tràn đầy hỷ, và thân cùng tâm đều lắng dịu, thì lúc ấy giác chi khinh an đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi khinh an, và giác chi khinh an đi đến viên mãn. Với người có thân đã lắng dịu và đang cảm thọ lạc, tâm nhập định. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có thân đã lắng dịu, đang cảm thọ lạc, và tâm nhập định, thì lúc ấy giác chi định đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi định, và giác chi định đi đến viên mãn. Vị ấy khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả, thì lúc ấy giác chi xả đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi xả, và giác chi xả đi đến viên mãn.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời, thì lúc ấy chánh niệm của vị ấy được an lập và không quên mất. Này các tỳ-kheo, khi nào chánh niệm của vị tỳ-kheo được an lập và không quên mất, thì lúc ấy giác chi niệm đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi niệm, và giác chi niệm đi đến viên mãn. Vị ấy sống với chánh niệm như vậy, dùng tuệ để suy xét, phân tích và thẩm tra pháp ấy. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống với chánh niệm như vậy và dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, thì lúc ấy giác chi trạch pháp đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi trạch pháp, và giác chi trạch pháp đi đến viên mãn. Khi vị ấy dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không hề thối lui. Này các tỳ-kheo, khi nào tinh tấn của vị tỳ-kheo được khởi lên, không hề thối lui, thì lúc ấy giác chi tinh tấn đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi tinh tấn, và giác chi tinh tấn đi đến viên mãn. Khi đã khởi lên tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị ấy. Này các tỳ-kheo, khi nào hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị tỳ-kheo đã khởi lên tinh tấn, thì lúc ấy giác chi hỷ đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi hỷ, và giác chi hỷ đi đến viên mãn. Với người có tâm đầy hỷ, thân lắng dịu và tâm cũng lắng dịu. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có tâm tràn đầy hỷ, và thân cùng tâm đều lắng dịu, thì lúc ấy giác chi khinh an đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi khinh an, và giác chi khinh an đi đến viên mãn. Với người có thân đã lắng dịu và đang cảm thọ lạc, tâm nhập định. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có thân đã lắng dịu, đang cảm thọ lạc, và tâm nhập định, thì lúc ấy giác chi định đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi định, và giác chi định đi đến viên mãn. Vị ấy khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả. Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả, thì lúc ấy giác chi xả đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi xả, và giác chi xả đi đến viên mãn.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống quán pháp trong các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham ưu ở đời, thì lúc ấy chánh niệm của vị ấy được an lập và không quên mất.

Này các tỳ-kheo, khi nào chánh niệm của vị tỳ-kheo được an lập và không quên mất, thì lúc ấy giác chi niệm đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi niệm, và giác chi niệm đi đến viên mãn.

Vị ấy sống với chánh niệm như vậy, dùng tuệ để suy xét, phân tích và thẩm tra pháp ấy.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo sống với chánh niệm như vậy và dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, thì lúc ấy giác chi trạch pháp đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi trạch pháp, và giác chi trạch pháp đi đến viên mãn.

Khi vị ấy dùng tuệ suy xét, phân tích, thẩm tra pháp ấy, tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không hề thối lui.

Này các tỳ-kheo, khi nào tinh tấn của vị tỳ-kheo được khởi lên, không hề thối lui, thì lúc ấy giác chi tinh tấn đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi tinh tấn, và giác chi tinh tấn đi đến viên mãn.

Khi đã khởi lên tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị ấy.

Này các tỳ-kheo, khi nào hỷ không liên hệ đến vật chất sinh khởi nơi vị tỳ-kheo đã khởi lên tinh tấn, thì lúc ấy giác chi hỷ đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi hỷ, và giác chi hỷ đi đến viên mãn.

Với người có tâm đầy hỷ, thân lắng dịu và tâm cũng lắng dịu.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có tâm tràn đầy hỷ, và thân cùng tâm đều lắng dịu, thì lúc ấy giác chi khinh an đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi khinh an, và giác chi khinh an đi đến viên mãn.

Với người có thân đã lắng dịu và đang cảm thọ lạc, tâm nhập định.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo có thân đã lắng dịu, đang cảm thọ lạc, và tâm nhập định, thì lúc ấy giác chi định đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi định, và giác chi định đi đến viên mãn.

Vị ấy khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả.

Này các tỳ-kheo, khi nào vị tỳ-kheo khéo nhìn lại tâm đã nhập định như vậy với tâm xả, thì lúc ấy giác chi xả đã được khởi lên nơi vị ấy. Lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập giác chi xả, và giác chi xả đi đến viên mãn.

Này các tỳ-kheo, bốn niệm xứ được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì làm viên mãn bảy giác chi.

Này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập thế nào, làm cho sung mãn thế nào thì làm viên mãn minh và giải thoát?

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo tu tập giác chi niệm, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi trạch pháp, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi tinh tấn, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi hỷ, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi khinh an, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi định, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

Vị ấy tu tập giác chi xả, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, chín muồi thành sự từ bỏ.

[Chú thích: Ba từ cuối ở đây gần như trùng với ba bước cuối của niệm hơi thở: ly tham, diệt, từ bỏ. Một trong những dụng ý của bài kinh là cho thấy các pháp tu này gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức nào.]

Này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thì làm viên mãn minh và giải thoát.

Đức Thế Tôn nói như vậy.


Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Niệm Hơi Thở, bài thứ tám, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →