buppou

Trung Bộ Kinh · bài 16/152

Kinh Tâm Hoang Vu

Cetokhila Sutta — bài kinh về năm chỗ tâm chai cứng như đất hoang và năm sợi dây trói buộc tâm.

19 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Tâm Hoang Vu (Cetokhila Sutta) là bài kinh thứ 16 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài khá ngắn và có khuôn mẫu rõ ràng: Đức Thế Tôn nêu hai nhóm, mỗi nhóm năm điều, khiến tâm một người tu không thể lớn lên; rồi Ngài nêu mặt trái của chúng, và cuối cùng giải thích lớn lên nghĩa là gì. Bối cảnh là tịnh xá của Anāthapiṇḍika trong rừng Jeta, ngoại thành Sāvatthī.

Nhóm thứ nhất có tên cetokhila, dịch là chỗ hoang vu của tâm. Chữ khila trong tiếng Pali chỉ một mảnh đất cằn cỗi đến mức mưa suốt bốn tháng cũng không có gì mọc lên. Năm chỗ hoang vu ấy là năm mối hoài nghi: hoài nghi bậc Đạo sư, hoài nghi giáo pháp, hoài nghi Tăng đoàn, hoài nghi sự học tập, và cuối cùng là giận dữ, bất mãn với những người cùng tu. Mỗi điều được mô tả theo cùng một khuôn: hễ tâm còn chỗ ấy thì tâm không hướng về sự nhiệt tâm, chuyên cần, bền bỉ và nỗ lực.

Nhóm thứ hai có tên cetasovinibandha, dịch là sợi dây trói buộc tâm. Đây là năm thứ trói tâm lại: tham đối với dục lạc, tham đối với thân, tham đối với sắc, thói ăn no rồi ngủ, và thói tu hành chỉ để được sinh lên cõi trời. Nói cách khác, một bên là những chỗ tâm chai cứng, một bên là những sợi dây kéo tâm xuống. Cả hai đều khiến tâm không chịu hướng về con đường tu tập, dù người ấy vẫn tự nhận mình đang tu.

Nửa sau bài kinh dành cho người đã gỡ được hai nhóm ấy. Khi ấy, vị tỳ-kheo tu tập bốn nền tảng thần thông, tức bốn cách làm cho định lớn lên, dựa trên ước muốn, trên tinh tấn, trên tâm đã được thanh lọc, và trên sự quán xét. Bài kinh gọi đó là mười lăm chi phần, kể cả sự hăng hái, và nói rằng người có đủ những chi phần ấy thì chắc chắn sẽ bước ra được.

Hình ảnh cuối bài làm rõ điều đó. Một con gà mái ấp trứng, sưởi ấm và chăm sóc trứng đúng cách; dù nó có ước ao hay không, bầy gà con vẫn đủ sức mổ vỏ chui ra. Cũng vậy, khi những điều kiện bên trong đã đủ, sự bừng tỉnh không còn là chuyện may rủi hay ước muốn suông, mà là điều tất yếu.

Với người đọc hôm nay, bài kinh đặt ra một câu hỏi rất cụ thể: trong tâm mình còn chỗ nào chai cứng, và còn sợi dây nào đang kéo mình lại? Hai nhóm ấy không phải lỗi đạo đức đáng xấu hổ, mà là những điều kiện có thể nhận diện và gỡ bỏ. Bài kinh không hứa hẹn gì lớn lao hơn thế, nhưng đó chính là điểm khởi đầu.

[Chú thích của người dịch: Cetokhila ghép từ ceto (tâm, lòng) và khila (mảnh đất hoang cằn cỗi đến mức mưa suốt bốn tháng cũng không có gì mọc lên).]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào chưa từ bỏ năm chỗ hoang vu của tâm, chưa cắt đứt năm sợi dây trói buộc tâm, mà lại đạt được sự tăng trưởng, sự lớn mạnh và sự sung mãn trong Pháp và Luật này — điều ấy không thể xảy ra.

[Chú thích: Hai nhóm năm pháp này cũng có trong AN 10.14; năm chỗ hoang vu của tâm còn xuất hiện ở AN 5.205, AN 9.71, DN 33 và DN 34, còn năm sợi dây trói buộc tâm ở AN 5.206, AN 9.72, AN 9.82, AN 9.92 và DN 33. Bài kinh gọi người nghe là các tỳ-kheo, nhưng các bản tương ứng trong Hán tạng đều gọi chung cả tỳ-kheo lẫn tỳ-kheo-ni, cho thấy từ này trong nhiều trường hợp chỉ chung những người xuất gia.]

Năm chỗ hoang vu của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ là những gì?

[Chú thích: Cetokhila có thể hiểu là sự chai cứng hay khô cằn của tâm; ceto là một trong những từ chỉ tâm, gần nghĩa với citta nhưng thường dùng khi nói đến phương diện cảm xúc của tâm. Khila là mảnh đất hoang cằn cỗi đến mức mưa suốt bốn tháng cũng không có gì mọc lên.]

Ở đây, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo hoài nghi bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào hoài nghi bậc Đạo sư, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng như vậy, thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là chỗ hoang vu thứ nhất của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo hoài nghi Pháp, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng. Tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là chỗ hoang vu thứ hai của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo hoài nghi Tăng đoàn, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng. Tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là chỗ hoang vu thứ ba của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo hoài nghi sự học tập, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng.

[Chú thích: Sự học tập ở đây gồm cả ba phần giới, định, tuệ, nhưng đặc biệt chỉ phần học giới căn bản; các bản tương ứng trong Hán tạng cũng nhấn mạnh đến giới ở chỗ này.]

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào hoài nghi sự học tập, do dự, không quyết đoán, không tin tưởng, thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là chỗ hoang vu thứ tư của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo giận dữ và bất mãn với các vị đồng phạm hạnh, tâm bị tổn thương, trở nên khô cằn hoang vu.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào giận dữ và bất mãn với các vị đồng phạm hạnh, tâm bị tổn thương, trở nên khô cằn hoang vu như vậy, thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là chỗ hoang vu thứ năm của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Đó là năm chỗ hoang vu của tâm mà vị ấy chưa từ bỏ.

Năm sợi dây trói buộc tâm mà vị ấy chưa cắt đứt là những gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo chưa lìa tham đối với các dục lạc, chưa từ bỏ ý muốn, chưa từ bỏ sự yêu mến, chưa từ bỏ cơn khát, chưa từ bỏ sự thiêu đốt, chưa từ bỏ sự thèm khát.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào chưa lìa tham đối với các dục lạc, chưa từ bỏ ý muốn, chưa từ bỏ sự yêu mến, chưa từ bỏ cơn khát, chưa từ bỏ sự thiêu đốt, chưa từ bỏ sự thèm khát, thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ nhất mà vị ấy chưa cắt đứt.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo chưa lìa tham đối với thân. Vị ấy chưa từ bỏ ý muốn, chưa từ bỏ sự yêu mến, chưa từ bỏ cơn khát, chưa từ bỏ sự thiêu đốt, chưa từ bỏ sự thèm khát. Tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là sợi dây trói buộc tâm thứ hai mà vị ấy chưa cắt đứt.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo chưa lìa tham đối với sắc. Vị ấy chưa từ bỏ ý muốn, chưa từ bỏ sự yêu mến, chưa từ bỏ cơn khát, chưa từ bỏ sự thiêu đốt, chưa từ bỏ sự thèm khát. Tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là sợi dây trói buộc tâm thứ ba mà vị ấy chưa cắt đứt.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo ăn cho thỏa thích đến mức bụng căng đầy, rồi sống buông theo lạc thú của giấc ngủ, của thế nằm, của cơn buồn ngủ.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào ăn cho thỏa thích đến mức bụng căng đầy, rồi sống buông theo lạc thú của giấc ngủ, của thế nằm, của cơn buồn ngủ, thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ tư mà vị ấy chưa cắt đứt.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo sống đời phạm hạnh mà hướng tâm đến một cõi trời nào đó, nghĩ rằng: "Nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này, nhờ phạm hạnh này, mong rằng ta sẽ thành một vị trời, hay một trong các vị trời."

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào sống đời phạm hạnh mà hướng tâm đến một cõi trời nào đó, nghĩ rằng: "Nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này, nhờ phạm hạnh này, mong rằng ta sẽ thành một vị trời, hay một trong các vị trời", thì tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy không hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ năm mà vị ấy chưa cắt đứt.

Đó là năm sợi dây trói buộc tâm mà vị ấy chưa cắt đứt.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào chưa từ bỏ năm chỗ hoang vu của tâm này, chưa cắt đứt năm sợi dây trói buộc tâm này, mà lại đạt được sự tăng trưởng, sự lớn mạnh và sự sung mãn trong Pháp và Luật này — điều ấy không thể xảy ra.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào đã từ bỏ năm chỗ hoang vu của tâm, đã cắt đứt hẳn năm sợi dây trói buộc tâm, thì vị ấy có thể đạt được sự tăng trưởng, sự lớn mạnh và sự sung mãn trong Pháp và Luật này — điều ấy có thể xảy ra.

Năm chỗ hoang vu của tâm mà vị ấy đã từ bỏ là những gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không hoài nghi bậc Đạo sư, không do dự, quyết đoán, tin tưởng.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không hoài nghi bậc Đạo sư, không do dự, quyết đoán, tin tưởng như vậy, thì tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là chỗ hoang vu thứ nhất của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không hoài nghi Pháp, không do dự, quyết đoán, tin tưởng. Tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là chỗ hoang vu thứ hai của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không hoài nghi Tăng đoàn, không do dự, quyết đoán, tin tưởng. Tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là chỗ hoang vu thứ ba của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không hoài nghi sự học tập, không do dự, quyết đoán, tin tưởng. Tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Như vậy, đây là chỗ hoang vu thứ tư của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không giận dữ và không bất mãn với các vị đồng phạm hạnh, tâm không bị tổn thương, không trở nên khô cằn hoang vu.


Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không giận dữ và không bất mãn với các vị đồng phạm hạnh, tâm không bị tổn thương, không trở nên khô cằn hoang vu như vậy, thì tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là chỗ hoang vu thứ năm của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Đó là năm chỗ hoang vu của tâm mà vị ấy đã từ bỏ.

Năm sợi dây trói buộc tâm mà vị ấy đã cắt đứt hẳn là những gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo đã lìa tham đối với các dục lạc, đã từ bỏ ý muốn, đã từ bỏ sự yêu mến, đã từ bỏ cơn khát, đã từ bỏ sự thiêu đốt, đã từ bỏ sự thèm khát.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào đã lìa tham đối với các dục lạc, đã từ bỏ ý muốn, đã từ bỏ sự yêu mến, đã từ bỏ cơn khát, đã từ bỏ sự thiêu đốt, đã từ bỏ sự thèm khát, thì tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ nhất mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo đã lìa tham đối với thân. Vị ấy đã từ bỏ ý muốn, đã từ bỏ sự yêu mến, đã từ bỏ cơn khát, đã từ bỏ sự thiêu đốt, đã từ bỏ sự thèm khát. Tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực. Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ hai mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Đối với sắc, vị ấy đã lìa tham. Vị ấy đã từ bỏ ý muốn, đã từ bỏ sự yêu mến, đã từ bỏ cơn khát, đã từ bỏ sự thiêu đốt, đã từ bỏ sự thèm khát. Tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực. Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ ba mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Vị ấy không ăn cho thỏa thích đến mức bụng căng đầy, rồi sống buông theo lạc thú của giấc ngủ, của thế nằm, của cơn buồn ngủ.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không ăn cho thỏa thích đến mức bụng căng đầy, rồi sống buông theo lạc thú của giấc ngủ, của thế nằm, của cơn buồn ngủ, thì tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ tư mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Hơn nữa, này các tỳ-kheo, một tỳ-kheo không hướng tâm đến một cõi trời nào đó mà sống đời phạm hạnh, không nghĩ rằng: "Nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này, nhờ phạm hạnh này, mong rằng ta sẽ thành một vị trời, hay một trong các vị trời."

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào không hướng tâm đến một cõi trời nào đó mà sống đời phạm hạnh, không nghĩ rằng: "Nhờ giới này, nhờ hạnh này, nhờ khổ hạnh này, nhờ phạm hạnh này, mong rằng ta sẽ thành một vị trời, hay một trong các vị trời", thì tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực.

Khi tâm của vị ấy hướng đến sự nhiệt tâm, sự chuyên cần, sự bền bỉ và sự nỗ lực như vậy, thì đây là sợi dây trói buộc tâm thứ năm mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Đó là năm sợi dây trói buộc tâm mà vị ấy đã cắt đứt hẳn.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo nào đã từ bỏ năm chỗ hoang vu của tâm này, đã cắt đứt hẳn năm sợi dây trói buộc tâm này, thì vị ấy có thể đạt được sự tăng trưởng, sự lớn mạnh và sự sung mãn trong Pháp và Luật này — điều ấy có thể xảy ra.

[Chú thích: Cho đến đây, bài kinh gần như trùng với AN 10.14. Phần tiếp theo cho thấy sự tăng trưởng nghĩa là gì: khi những nền tảng cảm xúc đã vững, việc tu thiền mới tiến được.]

Vị ấy tu tập nền tảng thần thông có định nhờ dục và những hành nỗ lực.

[Chú thích: Bốn nền tảng thần thông nằm trong nhóm ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là cách trình bày khác của con đường tu thiền, đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển định. Cách trình bày này hẳn nhắm đến những người hành thiền vốn say mê thần thông, để dẫn họ tới mục tiêu cao hơn là giải thoát. Dục ở đây là ước muốn hay ý chí tu tập Pháp để được giải thoát.]

Vị ấy tu tập nền tảng thần thông có định nhờ tinh tấn và những hành nỗ lực.

[Chú thích: Ai đã có ước muốn ấy thì sẽ đem sức tinh tấn ra để đạt mục tiêu.]

Vị ấy tu tập nền tảng thần thông có định nhờ tâm và những hành nỗ lực.

[Chú thích: Khi nỗ lực, người ta thanh lọc và phát triển tâm; trong ngữ cảnh thiền định, tâm thường gần như đồng nghĩa với định.]

Vị ấy tu tập nền tảng thần thông có định nhờ quán xét và những hành nỗ lực; còn thứ năm là sự hăng hái.

[Chú thích: Tâm đã được định làm cho trong sáng thì có thể quán sát đúng thực tính của sự vật. Sự hăng hái ở đây gần nghĩa với tinh tấn và hành nỗ lực, cho thấy tầm quan trọng của nỗ lực trong pháp tu này.]

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có đủ mười lăm chi phần ấy, kể cả sự hăng hái, thì có khả năng phá vỡ vỏ mà bước ra, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các ách phược.

[Chú thích: An ổn khỏi các ách phược là một ẩn dụ chỉ Niết-bàn, lấy từ nghĩa đen của khema là ốc đảo hay chỗ trú an toàn cho người và thú. Sau một ngày đường mệt nhọc, đoàn thương nhân dừng lại nghỉ, tháo ách cho súc vật, đặt gánh nặng xuống và sảng khoái trong làn nước mát.]

Ví như, này các tỳ-kheo, một con gà mái có tám, mười hay mười hai quả trứng.

[Chú thích: Ví dụ này còn xuất hiện ở MN 53 và một vài chỗ khác trong kinh điển.]

Những quả trứng ấy được gà mái ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách, chăm sóc đúng cách.

Dù cho gà mái ấy không hề khởi lên ước muốn như vầy:

"Ước gì bầy gà con của ta dùng móng chân hay mỏ mà phá vỡ vỏ trứng, rồi chui ra an toàn!"

Dẫu vậy, bầy gà con ấy vẫn có khả năng dùng móng chân hay mỏ mà phá vỡ vỏ trứng, rồi chui ra an toàn.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có đủ mười lăm chi phần ấy, kể cả sự hăng hái, thì có khả năng phá vỡ vỏ mà bước ra, có khả năng giác ngộ, có khả năng chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các ách phược.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Tâm Hoang Vu, bài thứ sáu, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Bài thứ sáu là vị trí của bài này trong phẩm Sư Tử Hống, không phải số 16 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →