buppou

Trung Bộ Kinh · bài 147/152

Tiểu Kinh Dạy Rāhula

Cūḷarāhulovāda Sutta — bài kinh Đức Thế Tôn dạy Rāhula về sự vô thường của sáu xứ

13 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Tiểu Kinh Dạy Rāhula (Cūḷarāhulovāda Sutta) là bài kinh thứ 147 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Đây là một trong ba bài Đức Thế Tôn dạy riêng cho con trai mình là Rāhula, bên cạnh Kinh Dạy Rāhula (bài 61) và Đại Kinh Dạy Rāhula (bài 62). Cả bài chỉ là một cuộc hỏi đáp ngắn, đọc hết trong khoảng mười phút, nhưng chính vì thế nó cho thấy rõ nhất cách Ngài dạy: hỏi để người học tự trả lời, rồi mới nói câu kết.

Bối cảnh rất giản dị. Một buổi sáng, Đức Thế Tôn đi khất thực ở Sāvatthī, ăn xong thì gọi Rāhula lấy tọa cụ, rồi hai thầy trò đi bộ vào rừng Andhavana — khu rừng ở ngoại vi thành — để nghỉ ngơi ban ngày. Ngài không thuyết giảng trước đám đông: chỉ có hai người ngồi dưới gốc cây. Nhưng trên đường đi, hàng ngàn chư thiên đã theo sau, vì biết rằng hôm nay Ngài sẽ dẫn Rāhula đến chỗ cuối cùng của con đường.

Cuộc hỏi đáp đi qua sáu lượt, mỗi lượt một giác quan. Với mắt, Ngài lần lượt hỏi về chính mắt, về các hình sắc, về thức của mắt, về xúc chạm qua mắt, và về tất cả những gì khởi lên từ xúc chạm ấy. Rồi lặp lại y hệt cho tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mỗi lần, Đức Thế Tôn chỉ hỏi ba câu: cái ấy thường còn hay vô thường, là khổ hay là lạc, và có thích hợp để xem nó là "của tôi", là "tôi", là "tự ngã của tôi" hay không.

Ba câu ấy không rời nhau mà là một lập luận. Cái gì sinh ra rồi mất đi thì không thường còn; cái gì không giữ được theo ý mình thì là khổ; và cái gì vô thường, khổ, luôn biến đổi thì không thể là "tôi" hay "của tôi". Vì vậy câu trả lời của Rāhula lần nào cũng giống nhau, và Đức Thế Tôn không cắt ngang để giảng giải thêm. Ngài để Rāhula tự trả lời sáu lượt, cho đến khi điều ấy thành cái thấy của chính mình.

Chỉ đến cuối, Ngài mới nói câu kết: thấy như vậy, người đã nghe Pháp nhàm chán mắt, nhàm chán các sắc, nhàm chán thức của mắt, nhàm chán xúc chạm qua mắt, và nhàm chán tất cả những gì sinh khởi từ đó; do nhàm chán mà ly tham, do ly tham mà giải thoát, và khi đã giải thoát thì biết mình đã giải thoát. Ngay khi lời ấy đang được nói, tâm Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc; hàng ngàn chư thiên trong rừng cũng đạt được cái thấy đầu tiên về Pháp.

Đọc bài này để làm gì? Trước hết, nó là một mẫu về cách học: không có giáo điều nào phải tin trước, chỉ có câu hỏi và câu trả lời do chính người học đưa ra. Sau nữa, nó cho thấy giải thoát trong kinh Pali không phải một trạng thái thần bí, mà là kết quả của việc nhìn thẳng vào những gì mình vẫn tưởng là mình. Và cuối cùng, nó là một khoảnh khắc rất riêng giữa cha và con: người cha dẫn đứa con trai đến chỗ trưởng thành cuối cùng của đời sống tu hành.

[Chú thích của người dịch: Cūḷa là "nhỏ, ngắn", phân biệt bài này với Đại Kinh Dạy Rāhula, tức bài 62. Ovāda là lời khuyên dạy, và Rāhula là con trai của Đức Thế Tôn, xuất gia khi còn nhỏ.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh này còn xuất hiện ở Tương Ưng Bộ Kinh 35.121.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi khi Đức Thế Tôn ở một mình trong chỗ vắng, ý nghĩ này khởi lên trong tâm Ngài:

Các pháp làm chín muồi sự giải thoát nơi Rāhula đã chín muồi rồi.

[Chú thích: Năm tưởng làm chín muồi sự giải thoát được dạy ở Trường Bộ Kinh 33.2.1.139, ngoài chỗ ấy thì ý niệm này không gặp lại trong các bài kinh. Trong Tương Ưng Bộ Kinh 18.1 đến 18.5, Rāhula xin một bài pháp để đi tĩnh cư, và bản Hán tương ứng kể rằng trước đó Đức Thế Tôn đã bảo Rāhula giảng về năm uẩn, sáu xứ và lý duyên khởi, rồi mới cho ngài đi tĩnh cư; chỉ sau đó Ngài mới xem Rāhula đã đủ chín muồi.]

Hay là Ta hãy dẫn dắt Rāhula xa hơn nữa, đến chỗ đoạn tận các lậu hoặc.

Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.

Sau khi khất thực trong Sāvatthī, dùng xong bữa ăn và trở về, Ngài gọi Tôn giả Rāhula:

Này Rāhula, ông hãy lấy tọa cụ;

[Chú thích: Tọa cụ là một vật dụng tiêu chuẩn của người xuất gia, được ghi trong giới bổn tỳ-kheo. Vật này xuất hiện thường xuyên trong văn bản của các bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, nhưng hiếm khi được nhắc trong các bài kinh Pali; Trường Bộ Kinh 16 có nhắc đến.]

chúng ta sẽ đến rừng Andhavana (Rừng Tối) để nghỉ ngơi ban ngày.

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Rāhula đáp lại Đức Thế Tôn, rồi mang tọa cụ đi theo sát sau lưng Ngài.

Lúc bấy giờ, hàng ngàn chư thiên đi theo Đức Thế Tôn, nghĩ rằng:

[Chú thích: Chi tiết hàng ngàn chư thiên đi theo chỉ có ở bài kinh này, không thấy trong bản Hán tương ứng, nên rõ ràng là phần được thêm vào sau.]

Hôm nay Đức Thế Tôn sẽ dẫn dắt Tôn giả Rāhula xa hơn nữa, đến chỗ đoạn tận các lậu hoặc.

Rồi Đức Thế Tôn đi sâu vào rừng Andhavana và ngồi xuống dưới gốc một cây, trên chỗ ngồi đã được trải sẵn.

Tôn giả Rāhula cũng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Khi Tôn giả Rāhula đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với ngài:

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

mắt là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

các sắc là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

thức của mắt là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

xúc chạm qua mắt là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua mắt, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, cái ấy là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.


Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, tai là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc? Là khổ, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng? Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, mũi là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc? Là khổ, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng? Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, lưỡi là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc? Là khổ, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng? Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, thân là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc? Là khổ, bạch Thế Tôn. Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là: "cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng? Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, ý là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, các pháp là thường còn hay vô thường?

[Chú thích của người dịch: Ở đây các pháp là những gì được ý nhận biết, tức đối tượng của ý, chứ không phải giáo pháp.]

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, thức của ý là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao, xúc chạm qua ý là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, ông nghĩ sao:

những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua ý, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức, cái ấy là thường còn hay vô thường?

Vô thường, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:

"cái này là của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi" chăng?

Bạch Thế Tôn, không.

Này Rāhula, thấy như vậy, bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp, nhàm chán mắt, nhàm chán các sắc, nhàm chán thức của mắt, nhàm chán xúc chạm qua mắt, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua mắt, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.


Nhàm chán tai, nhàm chán các âm thanh, nhàm chán thức của tai, nhàm chán xúc chạm qua tai, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua tai, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.

Nhàm chán mũi, nhàm chán các mùi, nhàm chán thức của mũi, nhàm chán xúc chạm qua mũi, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua mũi, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.

Nhàm chán lưỡi, nhàm chán các vị, nhàm chán thức của lưỡi, nhàm chán xúc chạm qua lưỡi, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua lưỡi, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.

Nhàm chán thân, nhàm chán các xúc, nhàm chán thức của thân, nhàm chán xúc chạm qua thân, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua thân, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.

Nhàm chán ý, nhàm chán các pháp, nhàm chán thức của ý, nhàm chán xúc chạm qua ý, và nhàm chán cả những gì sinh khởi do duyên xúc chạm qua ý, thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về hành, thuộc về thức.

Do nhàm chán, vị ấy ly tham; do ly tham, vị ấy giải thoát; khi đã giải thoát, vị ấy biết mình đã giải thoát.

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Và khi lời giảng này đang được nói, tâm của Tôn giả Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn bám víu.

Và pháp nhãn trong sạch, không còn bụi, không còn cấu uế khởi lên nơi hàng ngàn chư thiên ấy:

[Chú thích của người dịch: Pháp nhãn là cái thấy đầu tiên về Pháp, tức sự chứng đắc quả vị Nhập lưu.]

"Bất cứ cái gì có tính sinh khởi, tất cả đều có tính chấm dứt."

Tiểu Kinh Dạy Rāhula, bài thứ năm, đã kết thúc.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →