buppou

Tương Ưng Bộ · SN 31.21

Kinh Bố Thí Chỗ Ở Cho Chư Thiên Hương Rễ

Mūlagandhadānūpakārasutta — bài thứ hai mươi mốt

1 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Nhóm này giữ nguyên loại hương — hương rễ — và đổi vật phẩm.

Người ấy bố thí chỗ ở.

Vật được bố thí ở đây là chỗ ở (āvasatha).

Cấu trúc y nguyên: câu hỏi, bốn bước nhân quả, vật bố thí, kết quả. Chỉ hai chỗ đổi — loại hương và vật phẩm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Càn-thát-bà (Gandhabbakāyasaṃyutta), tương ưng thứ 31.

Phẩm Càn-thát-bà (Gandhabbavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Càn-thát-bà.

Kinh Bố Thí Chỗ Ở Cho Chư Thiên Hương Rễ (Mūlagandhadānūpakārasutta) — bài thứ hai mươi mốt.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ?

Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều tốt đẹp bằng thân, bằng lời, bằng ý.

Người ấy nghe nói:

Chư thiên trú trong hương rễ sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.

Người ấy nghĩ như vầy:

Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ.

Người ấy bố thí chỗ ở.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ.

Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ."

Bài thứ hai mươi mốt.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →