Tương Ưng Bộ · SN 29.19
Kinh Bố Thí Chỗ Ở Cho Rồng Trứng Sinh
Aṇḍajadānūpakārasutta — bài thứ mười chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này mở đầu loạt mười bài về rồng trứng sinh (aṇḍaja). Đây là loại thấp nhất trong bốn loại rồng — sinh ra từ trứng, như chim và loài bò sát.
Người ấy bố thí chỗ ở.
Lần này vật được bố thí là chỗ ở (āvasatha).
Chỗ ở (āvasatha) khác chỗ nằm. Chỗ nằm là cái giường; chỗ ở là mái nhà — nơi trú mưa, trú nắng, trú thú dữ.
Đây là vật lớn nhất trong danh sách, và nó đứng gần cuối, ngay trước ngọn đèn.
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ trứng sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.
Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.
Kinh Bố Thí Chỗ Ở Cho Rồng Trứng Sinh (Aṇḍajadānūpakārasutta) — bài thứ mười chín.
"Tại Sāvatthī.
Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Rồng trứng sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh.
Người ấy bố thí chỗ ở.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh."
Bài thứ mười chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.