Tương Ưng Bộ · SN 31.102
Kinh Bố Thí Đèn Cho Chư Thiên Hương Nhựa
Sāragandhādidānūpakārasutta — bài thứ một trăm lẻ hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc nhóm hương nhựa (rasa).
Người ấy bố thí đèn.
Vật được bố thí ở đây là đèn (padīpeyya). Hương nhựa là mùi của phần cây chảy ra khi bị thương. Nó đặc, dính, và giữ mùi rất lâu.
Đọc liền nhiều bài, sẽ thấy một nhịp rất đều. Nhịp ấy là một phần nội dung: nó dạy rằng quả không đến từ sự lạ, mà từ một chuỗi nhân quả lặp đi lặp lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Càn-thát-bà (Gandhabbakāyasaṃyutta), tương ưng thứ 31.
Phẩm Càn-thát-bà (Gandhabbavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Càn-thát-bà.
Kinh Bố Thí Đèn Cho Chư Thiên Hương Nhựa (Sāragandhādidānūpakārasutta) — bài thứ một trăm lẻ hai.
"Tại Sāvatthī.
Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương nhựa?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều tốt đẹp bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Chư thiên trú trong hương nhựa sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương nhựa.
Người ấy bố thí đèn.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương nhựa.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương nhựa."
Bài thứ một trăm lẻ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.