Tương Ưng Bộ · SN 30.22
Kinh Bố Thí Hương Thơm Cho Garuḍa Thai Sinh
Jalābujadānūpakārasutta — bài thứ hai mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này tiếp loạt kim xí điểu thai sinh, với vật bố thí là hương thơm.
Người ấy bố thí hương thơm.
Cấu trúc y nguyên như các bài trước: một tỳ-kheo hỏi nhân duyên, Đức Thế Tôn kể lại chuỗi suy nghĩ của người ấy — nghe nói kim xí điểu sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc, rồi mong được sinh vào hàng ngũ ấy, rồi bố thí.
Cái biến số thứ hai — loại chim — đi từ thấp lên cao: trứng, thai, thấp, hóa. Bốn bậc, mười vật, bốn mươi ô.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Garuḍa (Supaṇṇasaṃyutta), tương ưng thứ 30.
Phẩm Garuḍa (Supaṇṇavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Garuḍa.
Kinh Bố Thí Hương Thơm Cho Garuḍa Thai Sinh (Jalābujadānūpakārasutta) — bài thứ hai mươi hai.
"Tại Sāvatthī.
Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ kim xí điểu thai sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Kim xí điểu thai sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ kim xí điểu thai sinh.
Người ấy bố thí hương thơm.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ kim xí điểu thai sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ kim xí điểu thai sinh."
Bài thứ hai mươi hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.