Tương Ưng Bộ · SN 30.7
Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Garuḍa Trứng Sinh
Aṇḍajadānūpakārasutta — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này mở đầu loạt mười bài về kim xí điểu trứng sinh. Bốn mươi bài bố thí của bộ kinh bắt đầu từ đây.
Người ấy bố thí vật thực.
Cấu trúc y nguyên như các bài trước: một tỳ-kheo hỏi nhân duyên, Đức Thế Tôn kể lại chuỗi suy nghĩ của người ấy — nghe nói kim xí điểu sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc, rồi mong được sinh vào hàng ngũ ấy, rồi bố thí.
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ ấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Garuḍa (Supaṇṇasaṃyutta), tương ưng thứ 30.
Phẩm Garuḍa (Supaṇṇavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Garuḍa.
Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Garuḍa Trứng Sinh (Aṇḍajadānūpakārasutta) — bài thứ bảy.
"Tại Sāvatthī.
Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ kim xí điểu trứng sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Kim xí điểu trứng sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ kim xí điểu trứng sinh.
Người ấy bố thí vật thực.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ kim xí điểu trứng sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ kim xí điểu trứng sinh."
Bài thứ bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.