buppou

Tương Ưng Bộ · SN 29.41

Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Rồng Hóa Sinh

Opapātikadānūpakārasutta — bài thứ bốn mươi mốt

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này mở đầu loạt cuối — rồng hóa sinh, loại cao nhất trong bốn loại.

Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.

Bài này mở đầu loạt bài về rồng hóa sinh (opapātika). Hóa sinh là sinh ra đã thành hình đầy đủ, không qua trứng hay thai — như chư thiên.

Lần này vật được bố thí là vật thực (anna).

Mười bài cuối cùng này khép lại bốn mươi bài bố thí, và khép lại cả Tương Ưng Rồng.

Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ hóa sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.

Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.

Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Rồng Hóa Sinh (Opapātikadānūpakārasutta) — bài thứ bốn mươi mốt.


"Tại Sāvatthī.

Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh?

Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.

Người ấy nghe nói:

Rồng hóa sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.

Người ấy nghĩ như vầy:

Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh.

Người ấy bố thí vật thực.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh.

Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh."

Bài thứ bốn mươi mốt.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →