Tương Ưng Bộ · SN 29.11
Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Rồng Trứng Sinh
Aṇḍajadānūpakārasutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này mở đầu loạt bốn mươi bài ngắn nhất của Tương Ưng Rồng — mỗi bài một vật bố thí, một loại rồng.
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Bài này mở đầu loạt mười bài về rồng trứng sinh (aṇḍaja). Đây là loại thấp nhất trong bốn loại rồng — sinh ra từ trứng, như chim và loài bò sát.
Lần này vật được bố thí là vật thực (anna).
Cấu trúc bài y như mười chín bài trước: một tỳ-kheo hỏi nhân duyên, Đức Thế Tôn kể lại chuỗi suy nghĩ của người ấy — nghe nói rồng sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc, rồi mong được sinh vào hàng ngũ ấy, rồi bố thí.
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ trứng sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.
Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.
Kinh Bố Thí Vật Thực Cho Rồng Trứng Sinh (Aṇḍajadānūpakārasutta) — bài thứ mười một.
"Tại Sāvatthī.
Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Rồng trứng sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh.
Người ấy bố thí vật thực.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng trứng sinh."
Bài thứ mười một.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.