Tương Ưng Bộ · SN 29.35
Kinh Bố Thí Vòng Hoa Cho Rồng Thấp Sinh
Saṁsedajadānūpakārasutta — bài thứ ba mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này mở đầu loạt bài về rồng thấp sinh (saṁsedaja). Loại này sinh ra từ chỗ ẩm thấp, như giòi, muỗi và côn trùng.
Người ấy bố thí vòng hoa.
Lần này vật được bố thí là vòng hoa (māla).
Vòng hoa ở vị trí thứ năm, đúng như ba loạt trước.
Cái đều đặn ấy là một phần nội dung. Kinh không cố làm cho mỗi bài khác đi; kinh cố làm cho chúng giống nhau đến mức người nghe thuộc lòng.
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ thấp sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.
Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.
Kinh Bố Thí Vòng Hoa Cho Rồng Thấp Sinh (Saṁsedajadānūpakārasutta) — bài thứ ba mươi lăm.
"Tại Sāvatthī.
Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng thấp sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Rồng thấp sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng thấp sinh.
Người ấy bố thí vòng hoa.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng thấp sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng thấp sinh."
Bài thứ ba mươi lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.