Tương Ưng Bộ · SN 29.43
Kinh Bố Thí Y Phục Cho Rồng Hóa Sinh
Opapātikadānūpakārasutta — bài thứ bốn mươi ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này mở đầu loạt bài về rồng hóa sinh (opapātika). Hóa sinh là sinh ra đã thành hình đầy đủ, không qua trứng hay thai — như chư thiên.
Người ấy bố thí y phục.
Lần này vật được bố thí là y phục (vattha).
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ hóa sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.
Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.
Kinh Bố Thí Y Phục Cho Rồng Hóa Sinh (Opapātikadānūpakārasutta) — bài thứ bốn mươi ba.
"Tại Sāvatthī.
Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Rồng hóa sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh.
Người ấy bố thí y phục.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng hóa sinh."
Bài thứ bốn mươi ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.