buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.76

Kinh A-la-hán

Arahantasutta — bài thứ bốn

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh A-la-hán (Arahantasutta) có hai nửa rất khác nhau: nửa đầu là lập luận khô gọn, nửa sau là thơ.

Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật: "Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi."

Chuỗi ấy lặp cho cả năm uẩn, rồi kết bằng kết luận quen thuộc: nhàm chán, ly tham, giải thoát. Câu cuối của phần văn xuôi mới là câu đáng chú ý: từ chỗ có chúng sinh cho đến đỉnh cao của sự sống, các bậc a-la-hán là tối thắng trong đời.

Rồi Đức Thế Tôn nói tiếp bằng thơ — tám khổ kệ ca ngợi bậc đã xong việc. Và bài thơ ấy là một trong những đoạn đẹp nhất của Tương Ưng Uẩn:

Ôi! Hạnh phúc thay các bậc a-la-hán! / Nơi họ, tham không còn tìm thấy, / ngã mạn "tôi là" đã bị cắt đứt, / và lưới si mê đã bị phá tan.

Câu kết là một tiếng rống: "Bậc giác ngộ là tối thượng trên đời!"

Đọc bài này nên đọc to phần thơ. Nó không phải trang trí — nó là lời tuyên bố của người đã làm xong, và nhịp điệu của nó cũng là một phần của giáo lý: cái gì đã chấm dứt thì nói ra được như vậy.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Bị Gặm Nhấm (Khajjanīyavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.

Kinh A-la-hán (Arahantasutta) — bài thứ bốn.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường.

Cái gì vô thường là khổ.

Cái gì khổ là vô ngã.

Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thọ là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Tưởng là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Các hành là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thức là vô thường.

Cái gì vô thường là khổ.

Cái gì khổ là vô ngã.

Và cái gì vô ngã thì hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức.

Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'

Và này các tỳ-kheo, từ chỗ có chúng sinh, cho đến đỉnh cao nhất của sự sống, các bậc a-la-hán là tối thắng trong đời."

Đó là lời Đức Thế Tôn dạy.

Rồi Đức Thế Tôn, bậc Thế Tôn, bậc Đạo Sư, nói thêm:

"Ôi! Hạnh phúc thay các bậc a-la-hán!

Nơi họ, tham không còn tìm thấy,

ngã mạn 'tôi là' đã bị cắt đứt,

và lưới si mê đã bị phá tan.

Họ đã đạt đến sự bất động,

tâm họ không còn vẩn đục,

không gì trên đời còn dính vào họ,

họ đã trở thành bậc thanh tịnh, không ô nhiễm.

Thắng tri trọn năm uẩn,

lãnh vực của họ là bảy phẩm thiện.

Những bậc chân nhân ấy đáng tán thán,

là những người con trong lòng Đức Phật.

Đầy đủ bảy báu,

được huấn luyện trong ba học,

các bậc đại nhân ấy sống mãi,

đã từ bỏ sợ hãi và run rẩy.

Đầy đủ mười chi,

các bậc vĩ đại ấy đắm mình trong định.

Họ là tối thắng trên đời,

nơi họ, tham không còn tìm thấy.

Trí của bậc hữu học đã sinh:

'Bọc xương này là thân cuối cùng của ta.'

Họ không còn lệ thuộc vào người khác

về phần cốt lõi của phạm hạnh.

Họ không dao động vì các phân biệt,

họ đã thoát khỏi những đời sau.

Họ đã đạt đến bậc đã được điều phục,

trên đời, họ là những bậc chiến thắng.

Trên, dưới, khắp mọi phía,

nơi họ, thích thú không còn tìm thấy.

Họ rống lên tiếng rống sư tử:

'Bậc giác ngộ là tối thượng trên đời!'"

Kinh A-la-hán, bài thứ tư, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →