Tương Ưng Bộ · SN 46.176
Kinh Ách (Lần Nữa)
Yogasutta — bài thứ một trăm bảy mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Lượt cuối của phần peyyāla, mười bài, và cũng là mười bài cuối của cả tương ưng.
Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Cách trình bày ở đây rất tiết kiệm: một hình ảnh, một câu hỏi, một câu trả lời, hết.
Bài này tên là Kinh Ách (Lần Nữa), bài thứ một trăm lẻ bảy mươi sáu của tương ưng, nằm ở Phẩm Bộc Lưu (Lần Nữa).
Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Bộc Lưu (Lần Nữa) (Punaoghavagga) — phẩm thứ mười tám của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Ách (Lần Nữa) (Yogasutta) — bài thứ một trăm bảy mươi sáu.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có bốn ách.
Bốn ấy là gì?
Đó là ách dục, ách hữu, ách kiến, ách vô minh.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bốn ách ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Bảy ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bốn ách ấy, bảy giác chi này cần được tu tập. Các giác chi ấy lấy sự điều phục tham làm chỗ tận cùng, lấy sự điều phục sân làm chỗ tận cùng, lấy sự điều phục si làm chỗ tận cùng; lấy bất tử làm chỗ lún sâu, lấy bất tử làm bờ bên kia, lấy bất tử làm chỗ tận cùng; hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Bài thứ một trăm lẻ bảy mươi sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.