buppou

Tương Ưng Bộ · SN 31.3

Kinh Bố Thí Hương Rễ

Mūlagandhadātāsutta — bài thứ ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba bắt đầu loạt bố thí hương. Một tỳ-kheo hỏi hẹp hơn: vì sao sinh vào nhóm chư thiên trú trong hương rễ.

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ?

Chuỗi nhân quả vẫn bốn bước: nghe nói chư thiên ấy sống lâu có dung sắc nhiều an lạc, nghĩ rằng mong được sinh vào đó, rồi bố thí hương rễ, rồi được sinh vào đó.

Điểm mới nằm ở chỗ: vật bố thí chính là thứ mà nhóm chư thiên ấy sống bằng. Muốn về với loài sống bằng hương rễ thì cho đi hương rễ.

Bài này là khuôn cho một trăm lẻ chín bài sau: đổi loại hương, hoặc đổi vật phẩm, hoặc đổi cả hai.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Càn-thát-bà (Gandhabbakāyasaṃyutta), tương ưng thứ 31.

Phẩm Càn-thát-bà (Gandhabbavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Càn-thát-bà.

Kinh Bố Thí Hương Rễ (Mūlagandhadātāsutta) — bài thứ ba.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ?

Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều tốt đẹp bằng thân, bằng lời, bằng ý.

Người ấy nghe nói:

Chư thiên trú trong hương rễ sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.

Người ấy nghĩ như vầy:

Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ.

Người ấy bố thí hương rễ.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ.

Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ.

Đó là nhân, đó là duyên, này tỳ-kheo, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên trú trong hương rễ."

Bài thứ ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →