Tương Ưng Bộ · SN 50.28
Kinh Bông Lúa
Sūkasutta — bài thứ hai mươi tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm này là một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau, và tất cả đều chỉ về một chỗ: giới.
Này các tỳ-kheo, một bông lúa đứng trên đất, dựa trên đất — và nhờ vậy nó đứng vững, không bị đổ.
Năm lực này trùng tên với năm căn ở Tương Ưng 48. Chỗ khác nhau không nằm ở tên gọi mà ở chỗ đứng: một bên là những gì nâng đỡ, một bên là những gì đã đủ sức.
Ví dụ ở đây là bông lúa đứng trên đất: nhờ đứng vững mà nó không bị đổ. Đây là ví dụ gần với đời sống thường ngày nhất trong cả phẩm.
Bài này khép lại bằng đúng câu mà mọi bài trước đã nói. Không có gì mới, và đó là chủ ý.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.
Phẩm Thứ Ba (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Lực.
Kinh Bông Lúa (Sūkasutta) — bài thứ hai mươi tám.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, một bông lúa đứng trên đất, dựa trên đất — và nhờ vậy nó đứng vững, không bị đổ.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực."
Bài thứ hai mươi tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.