buppou

Tương Ưng Bộ · SN 47.82

Kinh Con Tàu

Nāvāsutta — bài thứ tám mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Con Tàu (Nāvāsutta) là bài thứ mười.

Hình ảnh rất ẩn dụ và rất chính xác: dây buộc tàu không bị cắt — nó mục dần vì bị phơi ra khỏi nước.

Cũng vậy, các dây trói buộc không bị phá; chúng chỉ mất dần sức khi tâm không còn ngâm trong chúng nữa.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.

Phẩm Việc Nặng (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Niệm Xứ, gồm mười hai bài ngắn cùng một khuôn.

Kinh Con Tàu (Nāvāsutta) — bài thứ tám mươi hai.


"Này các tỳ-kheo, ví như một con tàu vượt biển được buộc lại bằng dây thừng. Suốt sáu tháng nó nằm trong nước, chịu ẩm ướt; rồi vào mùa khô, người ta kéo nó lên bờ, các sợi dây bị nắng và gió làm cho khô, rã và mục.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nương vào giới, đứng trên giới, tu bốn chỗ quán niệm, thì các dây trói buộc trở nên lỏng lẻo, rã ra và mục đi.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm."

Kinh Con Tàu, bài thứ tám mươi hai, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →