Tương Ưng Bộ · SN 50.32
Kinh Con Thuyền
Nāvāsutta — bài thứ ba mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm này là một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau, và tất cả đều chỉ về một chỗ: giới.
Này các tỳ-kheo, một con thuyền lớn đi trên nước, dựa vào nước, đứng trên nước — và nhờ vậy nó chở được hàng hóa đi xa.
Năm lực thường được xếp theo thứ tự cố định, và thứ tự ấy không phải thứ tự tu tập. Tín đứng trước không phải vì quan trọng hơn, mà vì không có nó thì không bắt đầu được.
Ví dụ ở đây là con thuyền đi trên nước, dựa vào nước. Nước không giữ thuyền; nó chỉ nâng — và thuyền phải tự nổi.
Bài này không cần thêm gì. Nó đã nói đủ điều nó muốn nói.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.
Phẩm Thứ Ba (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Lực.
Kinh Con Thuyền (Nāvāsutta) — bài thứ ba mươi hai.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, một con thuyền lớn đi trên nước, dựa vào nước, đứng trên nước — và nhờ vậy nó chở được hàng hóa đi xa.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực."
Bài thứ ba mươi hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.