Tương Ưng Bộ · SN 12.130
Kinh Hăng Hái về Ái
Ussoḷhīsutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Hăng Hái về Ái là bài thứ một trăm ba mươi của Tương Ưng Nhân Duyên, và là bài thứ năm trong nhóm mười một bài lấy hăng hái làm pháp.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết ái, không thấy ái như thật, để có sự hiểu biết như thật về ái, thì cần phải hăng hái."
Ái là chữ gốc nghĩa là khát nước. Người khát không chọn mình khát; cơn khát đến trước, rồi nó chỉ cho người ta thấy chỗ có nước. Đó là toàn bộ cấu trúc của chiếc này: ái không phải "muốn nhiều", mà là một cơn khát tự động chỉ điểm.
Kinh dùng chữ này cho những lúc việc đã dài mà chưa xong — nó không phải hứng, mà là sự không chịu nằm yên.
Có một sự lạnh lùng trong cách bài kinh này được viết: cùng một khuôn, thay một chữ, không giải thích. Nhưng sự lạnh lùng ấy là một cách tôn trọng người đọc.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Antarapeyyāla (Antarapeyyāla) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Hăng Hái về Ái (Ussoḷhīsutta) — bài thứ năm.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết ái, không thấy ái như thật, không biết sự sinh khởi của ái, không thấy sự sinh khởi của ái như thật, không biết sự chấm dứt của ái, không thấy sự chấm dứt của ái như thật, không biết con đường dẫn đến sự chấm dứt của ái, không thấy con đường ấy như thật, để có sự hiểu biết như thật về ái,
thì cần phải hăng hái."
Bài thứ 130.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.