Tương Ưng Bộ · SN 51.50
Kinh Hương Hoa
Vassikasutta — bài thứ năm mươi
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc phẩm Không Dễ Duôi — mười bài, mỗi bài mở bằng một hình ảnh so sánh rồi khép lại bằng cùng một câu.
Này các tỳ-kheo, trong các hương hoa, hương của hoa nhài được gọi là bậc tối thượng — hương của nó được gọi là bậc tối thượng trong các hương hoa.
Chữ iddhi trong tiếng Pali nghĩa hẹp là thần thông, nghĩa rộng là sự thành tựu. Cả hai nghĩa đều có mặt trong tương ưng này, và chỗ nào dùng nghĩa nào thì phải tự đọc mà phân biệt.
Bài này ngắn và thẳng: nhờ bốn thần túc, vị tỳ-kheo đoạn tận lậu hoặc. Không có hình ảnh, không có ví dụ. Chỉ có một câu và bốn khoa.
Kinh dừng ở chỗ mà phần lớn người ta sẽ muốn hỏi thêm. Đó là chỗ dừng có chủ ý.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.
Phẩm Thứ Năm (Appamādavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Thần Túc.
Kinh Hương Hoa (Vassikasutta) — bài thứ năm mươi.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, trong các hương hoa, hương của hoa nhài được gọi là bậc tối thượng — hương của nó được gọi là bậc tối thượng trong các hương hoa.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, mọi pháp thiện đều lấy không dễ duôi làm gốc, đều hội tụ về không dễ duôi; không dễ duôi được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không dễ duôi thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu tập bốn thần túc, sẽ làm cho chúng sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn thần túc, làm cho chúng sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,
vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,
vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,
vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn thần túc, làm cho chúng sung mãn."
Bài thứ năm mươi.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.