buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.169

Kinh Khổ Tánh (Lần Nữa)

Dukkhatāsutta — bài thứ một trăm sáu mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Cùng mười nhóm pháp ấy, nhìn lại lần nữa.

Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Cái được nhấn mạnh không phải là kết quả, mà là thứ tự: cái gì có trước, cái gì có sau.

Bài này tên là Kinh Khổ Tánh (Lần Nữa), bài thứ một trăm lẻ sáu mươi chín của tương ưng, nằm ở Phẩm Tầm Cầu (Lần Nữa).

Đọc xong bài này, điều còn lại chỉ là một câu để nhớ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Tầm Cầu (Lần Nữa) (Punaesanāvagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Khổ Tánh (Lần Nữa) (Dukkhatāsutta) — bài thứ một trăm sáu mươi chín.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có ba khổ tánh.

Ba ấy là gì?

Đó là khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ ba khổ tánh ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Bảy ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;

vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ ba khổ tánh ấy, bảy giác chi này cần được tu tập. Các giác chi ấy lấy sự điều phục tham làm chỗ tận cùng, lấy sự điều phục sân làm chỗ tận cùng, lấy sự điều phục si làm chỗ tận cùng; lấy bất tử làm chỗ lún sâu, lấy bất tử làm bờ bên kia, lấy bất tử làm chỗ tận cùng; hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."

Bài thứ một trăm lẻ sáu mươi chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →