buppou

Tương Ưng Bộ · SN 34.26

Kinh Lấy An Trú Làm Nền — Liên Tục

Ṭhitimūlakasātaccakārīsutta — bài thứ hai mươi sáu

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này vẫn thuộc nhóm Lấy An Trú Làm Nền, so với liên tục (sātacca).

Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng làm việc liên tục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.

Hai thứ được đem ra so ở đây là an trú (ṭhiti) — an trú — khả năng ở lại trong tầng thiền đã bước vào — và liên tục (sātacca) — liên tục — cách làm không đứt quãng.

Chữ kusala ở đây không có nghĩa đạo đức. Nó có nghĩa khéo, như khéo một nghề. Bộ kinh đang nói về tay nghề của người hành thiền.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta), tương ưng thứ 34.

Phẩm Thiền (Jhānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thiền.

Kinh Lấy An Trú Làm Nền — Liên Tục (Ṭhitimūlakasātaccakārīsutta) — bài thứ hai mươi sáu.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có bốn hạng người hành thiền.

Bốn hạng ấy là gì?

Này các tỳ-kheo, ở đây, một số người hành thiền, trong định, khéo về an trú nhưng không làm việc liên tục.

Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, làm việc liên tục nhưng không khéo về an trú.

Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, không khéo về an trú và cũng không làm việc liên tục.

Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về an trú và cũng làm việc liên tục.

Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng làm việc liên tục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.

Này các tỳ-kheo, ví như từ con bò có sữa, từ sữa có sữa chua, từ sữa chua có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ lỏng, từ bơ lỏng có tinh chất bơ — trong số ấy, tinh chất bơ được gọi là tối thắng;

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng làm việc liên tục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền."

Bài thứ hai mươi sáu.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →