Tương Ưng Bộ · SN 34.36
Kinh Lấy Sự Thuần Thục Làm Nền — Phạm Vi
Kallitamūlakagocarasutta — bài thứ ba mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này vẫn thuộc nhóm Lấy Sự Thuần Thục Làm Nền, so với phạm vi (gocara).
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về sự thuần thục và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Hai thứ được đem ra so ở đây là sự thuần thục (kallita) — sự thuần thục — khả năng làm cho tâm dẻo dai, dùng được — và phạm vi (gocara) — phạm vi — vùng mà tâm được phép đi trong khi hành thiền.
Chữ kusala ở đây không có nghĩa đạo đức. Nó có nghĩa khéo, như khéo một nghề. Bộ kinh đang nói về tay nghề của người hành thiền.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta), tương ưng thứ 34.
Phẩm Thiền (Jhānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thiền.
Kinh Lấy Sự Thuần Thục Làm Nền — Phạm Vi (Kallitamūlakagocarasutta) — bài thứ ba mươi sáu.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có bốn hạng người hành thiền.
Bốn hạng ấy là gì?
Này các tỳ-kheo, ở đây, một số người hành thiền, trong định, khéo về sự thuần thục nhưng không khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về phạm vi nhưng không khéo về sự thuần thục.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, không khéo về sự thuần thục và cũng không khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về sự thuần thục và cũng khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về sự thuần thục và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Này các tỳ-kheo, ví như từ con bò có sữa, từ sữa có sữa chua, từ sữa chua có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ lỏng, từ bơ lỏng có tinh chất bơ — trong số ấy, tinh chất bơ được gọi là tối thắng;
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, người hành thiền nào, trong định, khéo về sự thuần thục và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền."
Bài thứ ba mươi sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.