Tương Ưng Bộ · SN 46.48
Kinh Mặt Trời
Ādiccasutta — bài thứ bốn mươi tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm thứ năm, mười bài, toàn những hình ảnh ví von lớn.
Bạn lành là rạng đông báo trước mặt trời giác chi.
Nếu đọc nhanh, bài này có vẻ trống. Đọc chậm thì thấy nó đang dạy một cách nhìn.
Bài này tên là Kinh Mặt Trời. Đây là bài thứ bốn mươi tám trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Chuyển Luân Vương.
Bài này ngắn, và cái ngắn ấy là cố ý.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Chuyển Luân Vương (Cakkavattivagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Mặt Trời (Ādiccasutta) — bài thứ bốn mươi tám.
"Này các tỳ-kheo, đối với mặt trời đang mọc, cái đi trước và là điềm báo trước của nó chính là rạng đông.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, đối với vị tỳ-kheo, cái đi trước và là điềm báo trước cho sự sinh khởi của bảy giác chi chính là bạn lành.
Này các tỳ-kheo, có thể chờ đợi điều này nơi vị tỳ-kheo có bạn lành: vị ấy sẽ tu tập bảy giác chi, sẽ thực hành nhiều bảy giác chi.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo có bạn lành tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo có bạn lành tu tập bảy giác chi, thực hành nhiều bảy giác chi."
Bài thứ bốn mươi tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.