Tương Ưng Bộ · SN 45.84
Kinh Một Pháp (II): Bạn Tốt II
Dutiyakalyāṇamittasutta — bài thứ tám mươi tư
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Một Pháp (II): Bạn Tốt II (Dutiyakalyāṇamittasutta) mở nhóm thứ hai của phẩm — cùng bảy cái nền, nhưng cách tu tập ở cuối bài đổi thành hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.
Mở nhóm thứ hai của phẩm — cùng bảy cái nền, nhưng tu tập hướng đến dứt trừ tham, sân, si thay vì dựa trên xa lìa, ly tham, chấm dứt, buông bỏ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Một Pháp (II) (Dutiyaekadhammapeyyālavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Đạo.
Kinh Một Pháp (II): Bạn Tốt II (Dutiyakalyāṇamittasutta) — bài thứ tám mươi tư.
"Này các tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào khác — khiến cho con đường tám nhánh cao quý chưa sinh khởi thì sinh khởi, đã sinh khởi thì đi đến đầy đủ trong tu tập — ngoài làm bạn với người tốt.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã làm bạn với người tốt thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu con đường tám nhánh cao quý, sẽ làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo đã làm bạn với người tốt tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo đã làm bạn với người tốt tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn."
Kinh Một Pháp (II): Bạn Tốt II, bài thứ tám mươi tư, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.