buppou

Tương Ưng Bộ · SN 51.41

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Biển

Tatiyasamuddaninnasutta — bài thứ bốn mươi mốt

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Gaṅgā — mười hai bài mở đầu phần peyyāla, nơi mọi thứ được rút lại thành những hình ảnh về dòng nước chảy về một phía.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển.

Chữ thần túc nghe như nói về phép màu. Nhưng thành phần thứ tư trong mỗi thần túc lại là các hành tinh cần — nghĩa là cái phần con người phải tự làm. Không có phép nào thay được phần ấy.

Bài này trở lại sông Aciravatī, với hướng chảy về biển.

Và như vậy, một bài kinh chỉ gồm mấy câu, được lặp lại đủ nhiều lần để thành một thói quen của tâm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.

Phẩm Thứ Tư (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Thần Túc.

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Biển (Tatiyasamuddaninnasutta) — bài thứ bốn mươi mốt.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."

Bài thứ bốn mươi mốt.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →