Tương Ưng Bộ · SN 50.3
Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông
Tatiyapācīnaninnasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc phẩm Gaṅgā — phẩm mở đầu của Tương Ưng Lực, gồm mười hai bài mà mỗi bài là một hình ảnh về dòng nước chảy về một phía.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông.
Cách tu tập được mô tả bằng bốn chữ: nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ. Cả bốn đều là chữ nương vào — nghĩa là không có lực nào tự đứng một mình.
Bài này mở bằng sông Aciravatī.
Đọc xong, điều còn lại không phải một ý niệm mà một hướng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.
Phẩm Thứ Nhất (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Lực.
Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (Tatiyapācīnaninnasutta) — bài thứ ba.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông;
cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập năm lực, thực hành nhiều năm lực thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.