buppou

Tương Ưng Bộ · SN 45.105

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (II)

Tatiyapācīnaninnasutta — bài thứ một trăm lẻ năm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (II) (Tatiyapācīnaninnasutta) là bài lặp của ẩn dụ "nghiêng về phía đông", với sông Aciravatī. Cùng một câu, cùng độ dốc; chỉ đổi tên dòng sông và câu kết thúc việc tu tập: hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.

Phẩm Sông Hằng (II) (Dutiyagaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ mười của Tương Ưng Đạo.

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (II) (Tatiyapācīnaninnasutta) — bài thứ một trăm lẻ năm.


"Này các tỳ-kheo, như sông Aciravatī nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông;"

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, thì nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông."

Kinh sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (II), bài thứ một trăm lẻ năm, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →