buppou

Tương Ưng Bộ · SN 45.129

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (IV)

Tatiyapācīnaninnasutta — bài thứ một trăm hai mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (IV) (Tatiyapācīnaninnasutta) là bài lặp của vòng cuối, với sông Aciravatī — cùng một câu: từng nhánh của con đường cũng nghiêng, dốc, chảy về niết-bàn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.

Phẩm Sông Hằng (II) (Dutiyagaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ mười của Tương Ưng Đạo.

Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (IV) (Tatiyapācīnaninnasutta) — bài thứ một trăm hai mươi chín.


"Này các tỳ-kheo, như sông Aciravatī nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông;"

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, thì nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tư duy — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh ngữ — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh nghiệp — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh mạng — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tinh tấn — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh niệm — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh định — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn."

Kinh sông Aciravatī Nghiêng Về Phía Đông (IV), bài thứ một trăm hai mươi chín, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →