buppou

Tương Ưng Bộ · SN 47.53

Kinh Sông Aciravatī

Aciravatīnadīsutta — bài thứ năm mươi ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sông Aciravatī (Aciravatīnadīsutta) là bài thứ ba của loạt mười hai.

Ba bài liền nhau (47.51, 47.52, 47.53) chỉ đổi tên sông. Người đọc bản dịch thường thấy lạ: vì sao giữ lại ba bài gần như trùng nhau?

Câu trả lời nằm ở cách truyền khẩu: khi một hình ảnh đã thành khuôn, người ta giữ nguyên khuôn và đổi từng chi tiết nhỏ — để người nghe nhớ cái khuôn, chứ không nhớ một câu văn riêng lẻ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.

Phẩm Sông Hằng (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Niệm Xứ, gồm mười hai bài ngắn cùng một khuôn.

Kinh Sông Aciravatī (Aciravatīnadīsutta) — bài thứ năm mươi ba.


"Ví như, này các tỳ-kheo, sông Aciravatī nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, thì nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn."

Kinh Sông Aciravatī, bài thứ năm mươi ba, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →