buppou

Tương Ưng Bộ · SN 47.57

Kinh Sông Hằng (II)

Gaṅgānadīsutta — bài thứ năm mươi bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sông Hằng (II) (Gaṅgānadīsutta) mở đầu nửa sau của phẩm: sáu bài cùng năm con sông ấy và bài "tất cả các sông lớn", nhưng lần này nghiêng về biển.

Vì sao đổi hướng? Vì phía đông chỉ là một hướng; biển là chỗ đến. Sáu bài đầu nói về chiều nghiêng; sáu bài sau nói về chỗ chảy tới.

Và Niết-bàn, trong cách nói của kinh, là cả hai: vừa là hướng, vừa là chỗ đến.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.

Phẩm Sông Hằng (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Niệm Xứ, gồm mười hai bài ngắn cùng một khuôn.

Kinh Sông Hằng (II) (Gaṅgānadīsutta) — bài thứ năm mươi bảy.


"Ví như, này các tỳ-kheo, sông Hằng nghiêng về biển, dốc về biển, chảy về biển.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, thì nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu bốn chỗ quán niệm, làm cho sung mãn bốn chỗ quán niệm, nên nghiêng về Niết-bàn, dốc về Niết-bàn, chảy về Niết-bàn."

Kinh Sông Hằng (II), bài thứ năm mươi bảy, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →