Tương Ưng Bộ · SN 45.121
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Biển (III)
Paṭhamasamuddaninnasutta — bài thứ một trăm hai mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Biển (III) (Paṭhamasamuddaninnasutta) mở vòng thứ hai của nửa "về biển".
Phía đông và biển — hai cái tên cho cùng một chỗ đến, và kinh dùng cả hai. Nếu chỉ có "phía đông", người nghe có thể tưởng niết-bàn là một hướng nào đó ở phía ấy. "Biển" sửa lại: đó là chỗ mà mọi dòng nước cuối cùng nhập vào và không còn tên riêng nữa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Sông Hằng (II) (Dutiyagaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ mười của Tương Ưng Đạo.
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Biển (III) (Paṭhamasamuddaninnasutta) — bài thứ một trăm hai mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, như sông Hằng nghiêng về biển, dốc về biển, chảy về biển;"
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, thì nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Kinh sông Hằng Nghiêng Về Biển (III), bài thứ một trăm hai mươi mốt, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.