Tương Ưng Bộ · SN 45.127
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Phía Đông (IV)
Paṭhamapācīnaninnasutta — bài thứ một trăm hai mươi bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Phía Đông (IV) (Paṭhamapācīnaninnasutta) mở vòng cuối của phẩm mười — và vòng này mang một chỗ đổi đáng kể.
Hai vòng trước, câu mô tả việc tu tập nói về cái nền ("dựa trên sự xa lìa…") rồi về cái được gỡ ("hướng đến dứt trừ tham, sân, si"). Vòng này nói thẳng vào từng nhánh:
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, … tu chánh định — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Đây là chỗ ẩn dụ sông nước nhập vào chính con đường: không còn "con đường dẫn tới niết-bàn" như hai vật tách rời, mà từng nhánh của con đường cũng đã nghiêng về đó.
Nói cách khác: không phải bạn đi trên một con đường để tới niết-bàn; mà mỗi bước của con đường — từ cái nhìn đầu tiên cho tới sự định tâm cuối cùng — đã là một phần của dòng chảy ấy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Sông Hằng (II) (Dutiyagaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ mười của Tương Ưng Đạo.
Kinh Sông Hằng Nghiêng Về Phía Đông (IV) (Paṭhamapācīnaninnasutta) — bài thứ một trăm hai mươi bảy.
"Này các tỳ-kheo, như sông Hằng nghiêng về phía đông, dốc về phía đông, chảy về phía đông;"
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, thì nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tư duy — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh ngữ — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh nghiệp — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh mạng — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tinh tấn — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh niệm — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh định — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn, nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Kinh sông Hằng Nghiêng Về Phía Đông (IV), bài thứ một trăm hai mươi bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.