buppou

Tương Ưng Bộ · SN 49.2

Kinh Sông Yamunā Nghiêng Về Phía Đông

Dutiyapācīnaninnasutta — bài thứ hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Mười hai bài ấy chia làm hai nửa: sáu bài nói về dòng sông nghiêng về phía đông, sáu bài nói về dòng sông nghiêng về biển.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Hằng nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông.

Bốn câu định nghĩa trong bài này dài gần như nhau, và mỗi câu có bốn động từ nối tiếp: khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Sự trùng lặp ấy không phải để cho đủ chữ; nó mô tả một sự cố gắng có nhiều lớp.

Bài này mở bằng sông Yamunā, con sông thứ hai trong nhóm năm dòng sông lớn.

Bài này không cần thêm gì. Nó đã nói đủ điều nó muốn nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.

Phẩm Thứ Nhất (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Chánh Cần.

Kinh Sông Yamunā Nghiêng Về Phía Đông (Dutiyapācīnaninnasutta) — bài thứ hai.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Hằng nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."

Bài thứ hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →