buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.102

Kinh Từ Người Sinh Lại Làm Người (1)

Manussacutinirayasutta — bài thứ nhất

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Từ Người Sinh Lại Làm Người (1) (Manussacutinirayasutta) mở phẩm cuối bằng chính hình ảnh bụi trên móng tay — lần này áp vào chuyện đi về giữa các cõi.

Đức Thế Tôn hỏi: bụi móng tay với trái đất, cái nào nhiều? Rồi: số người chết đi mà được sinh lại làm người thì ít như bụi ấy; số chết đi mà rơi vào địa ngục thì nhiều như đất.

Câu này lặp lại ba mươi lần trong phẩm, chỉ đổi cõi đi và cõi đến. Đọc liền, người ta thấy đó không phải ba mươi lời dọa, mà là một cách nhìn: chỗ đến không do ai xếp đặt, nó đi theo hướng mình đã nghiêng về.

Phẩm cuối của Tương Ưng Tứ Đế là một loạt ba mươi bài ngắn nói về năm cõi đi về: loài người, chư thiên, địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Mỗi bài cùng một khuôn: rất ít chúng sinh đi từ cõi này sang cõi kia theo chiều tốt; phần lớn rơi xuống ba cõi dữ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Năm Cõi (Pañcagatipeyyālavagga) — phẩm thứ mười một, phẩm cuối của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Từ Người Sinh Lại Làm Người (1) (Manussacutinirayasutta) — bài thứ nhất.


Rồi Đức Thế Tôn lấy một chút bụi trên móng tay, và hỏi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào,

cái nào nhiều hơn — chút bụi Ta lấy trên móng tay, hay cả trái đất lớn này?"

"Cái này nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là

trái đất lớn;

chút bụi Đức Thế Tôn lấy trên móng tay thật chẳng đáng kể.

Chút bụi Đức Thế Tôn lấy trên móng tay không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh trái đất lớn."

"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, số chúng sinh chết đi từ loài người mà được sinh lại làm người thì ít; còn số chúng sinh chết đi từ loài người mà sinh vào địa ngục thì nhiều hơn.

Kinh Từ Người Sinh Lại Làm Người (1), bài thứ nhất, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →