Tương Ưng Bộ · SN 43.017
Vi Tế
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Nipuṇasutta — Kinh Vi Tế
Vi tế — nipuṇa, nghĩa đen là "đã làm cho khéo", "đã tinh luyện". Một chữ dùng cho đồ vật được làm kỹ, và ở đây dùng cho cái không làm ra được.
Vi tế — này các tỳ-kheo, đây gọi là con đường đi đến vô vi.
Đây là một trong những tên gọi đẹp nhất của danh sách, và cũng là một trong những tên dễ gây hiểu lầm nhất: vi tế không có nghĩa là mờ ảo. Nó có nghĩa là thứ ấy đòi một sự chú ý đủ mịn mới thấy.
Bản dịch khai triển đầy đủ theo khung của bài Vô Vi.
Nipuṇa — bài thứ mười bảy
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Vô Vi (Asaṅkhatasaṃyutta), tương ưng thứ 43.
Phẩm thứ hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Vô Vi.
Vi Tế (Nipuṇa) — bài thứ mười bảy.
"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về vi tế và con đường đi đến vi tế.
Hãy lắng nghe. Này các tỳ-kheo, vi tế là gì? Này các tỳ-kheo, sự tận diệt tham, sự tận diệt sân, sự tận diệt si — này các tỳ-kheo, đây gọi là vi tế. Này các tỳ-kheo, con đường đi đến vi tế là gì? Thân hành niệm — này các tỳ-kheo, đây gọi là con đường đi đến vi tế. Này các tỳ-kheo, như vậy ta đã giảng cho các ông vi tế, đã giảng con đường đi đến vi tế. Những gì một bậc đạo sư muốn làm cho các đệ tử — vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, vì sự an lạc của họ — thì ta đã làm cho các ông. Này các tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống vắng. Hãy ngồi thiền, này các tỳ-kheo, chớ buông lung, chớ để về sau phải hối hận. Đây là lời dạy của ta cho các ông."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.