Trung Bộ Kinh · bài 113/152
Kinh Con Người Chân Thật
Sappurisa Sutta — bài kinh về con người chân thật và kẻ không chân thật
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Con Người Chân Thật (Sappurisa Sutta) là bài kinh thứ 113 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bối cảnh rất giản dị: tại Sāvatthī (Xá-vệ), Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại và nói rằng Ngài sẽ giảng cho họ "pháp của người chân thật và pháp của kẻ không chân thật". Chữ "pháp" ở đây không có nghĩa là giáo lý, mà là nét đặc trưng, là cách hành xử làm nên con người ấy. Toàn bộ bài kinh là một danh sách những nét như vậy, đặt cạnh nhau để người đọc tự so.
Danh sách ấy gồm những thứ mà người ta thường dùng để đo giá trị bản thân. Thứ nhất là chỗ mình sinh ra: một gia đình cao sang, danh giá, hay rất giàu có. Rồi đến việc mình được nhiều người biết đến và nổi tiếng, được cúng dường đầy đủ bốn thứ cần dùng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở và thuốc men. Rồi đến vốn liếng tu học: học rộng nghe nhiều, thông thuộc Luật, có khả năng thuyết Pháp. Rồi đến lối sống khổ hạnh: ở rừng, mặc y phấn tảo, chỉ ăn đồ khất thực, ở dưới gốc cây, ở nghĩa địa, ở ngoài trời, không nằm mà chỉ ngồi, nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn, mỗi ngày chỉ ăn một lần ngồi. Cuối cùng là thành tựu thiền định: bốn tầng thiền-na và bốn tầng định vô sắc, tức bốn trạng thái tâm an trú nơi không gian vô biên, nơi thức vô biên, nơi không có gì, và nơi không còn tưởng mà cũng không hết tưởng.
Cách bài kinh vận hành rất đều. Với mỗi món trong danh sách, kẻ không chân thật lấy nó ra làm thước đo, nghĩ rằng "ta có cái này, còn những vị kia thì không", rồi tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Người chân thật thì nhìn đúng cùng một món ấy nhưng không đo mình bằng nó: xuất thân cao sang hay thấp hèn, nổi tiếng hay vô danh, học rộng hay ít học, ở rừng hay ở làng, đắc thiền hay không đắc thiền, tất cả đều không làm cho tham, sân, si nơi mình chấm dứt. Cái làm chúng chấm dứt là có thực hành Pháp hay không. Vì vậy người chân thật lấy chính sự thực hành làm thước đo, chứ không lấy những ưu thế kia.
Điểm căng nhất của bài kinh nằm ở phần thiền định. Một người có thể đã chứng đắc thiền-na thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, đã lên tới tầng định cao nhất của cõi vô sắc, mà vẫn còn đúng cái thói ấy: lấy chứng đắc của mình ra để hơn người. Cho nên Đức Thế Tôn nhắc rằng ngay cả những chứng đắc ấy cũng không phải là chỗ để "do đó mà thành" — chữ Pali là atammayatā. Và Ngài dẫn một câu kệ: hễ còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi. Con đường tu tập có thể trở thành một nấc thang mới cho cái tôi, và bài kinh chỉ đúng chỗ ấy.
Bài kinh kết thúc bằng hình ảnh người chân thật đi trọn con đường: vượt qua tầng định vô sắc cuối cùng, chứng đạt sự diệt tận của tưởng và thọ, và các lậu hoặc được tận diệt khi thấy bằng tuệ. Vị tỳ-kheo ấy, như lời kết, không tưởng tượng ra bất cứ điều gì, không tưởng tượng ở bất cứ đâu, không tưởng tượng bằng bất cứ cách nào. Đó là con người chân thật theo nghĩa trọn vẹn nhất mà bài kinh muốn nói tới.
Người đọc lần đầu sẽ thấy bài kinh lặp nhiều. Xin đừng bỏ qua những chỗ lặp ấy: mỗi lần lặp là một lần bài kinh đem đúng một câu hỏi ra thử trên một lãnh vực mới của đời sống, và cái lặp chính là phương pháp. Bài kinh không có câu chuyện, không có phép lạ, chỉ có một danh sách và một cách nhìn. Nhưng nếu đọc chậm, người ta có thể nhận ra mình đã từng đứng ở cả hai phía của danh sách này.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông pháp của người chân thật và pháp của kẻ không chân thật.
Hãy lắng nghe và chú tâm cho kỹ, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Và này các tỳ-kheo, pháp của kẻ không chân thật là gì?"
Ở đây, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật xuất gia từ một gia đình cao sang.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta đây xuất gia từ một gia đình cao sang, còn những tỳ-kheo khác này thì không xuất gia từ một gia đình cao sang."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì xuất thân từ một gia đình cao sang mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không xuất gia từ một gia đình cao sang,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc xuất thân từ một gia đình cao sang ấy.
[Chú thích: Người ấy từ chối những thước đo giá trị của xã hội và chỉ chú trọng sự trong sạch bên trong, nên làm ngược lại với vị hành giả ở Trung Bộ 108:26.4, người che giấu các phiền não bên trong.]
Đây là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật xuất gia từ một gia đình danh giá. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta đây xuất gia từ một gia đình danh giá, còn những tỳ-kheo khác này thì không xuất gia từ một gia đình danh giá." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì xuất thân từ một gia đình danh giá mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy không xuất gia từ một gia đình danh giá, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc xuất thân từ một gia đình danh giá ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật xuất gia từ một gia đình giàu có. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta đây xuất gia từ một gia đình giàu có, còn những tỳ-kheo khác này thì không xuất gia từ một gia đình giàu có." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì xuất thân từ một gia đình giàu có mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy không xuất gia từ một gia đình giàu có, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc xuất thân từ một gia đình giàu có ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Kẻ không chân thật ấy xuất gia từ một gia đình rất giàu có.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta đây xuất gia từ một gia đình rất giàu có, còn những tỳ-kheo khác này thì không xuất gia từ một gia đình rất giàu có."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì xuất thân từ một gia đình rất giàu có mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không xuất gia từ một gia đình rất giàu có,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc xuất thân từ một gia đình rất giàu có ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật được nhiều người biết đến và nổi tiếng.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta được nhiều người biết đến và nổi tiếng, còn những tỳ-kheo khác này thì ít người biết đến và không có uy thế."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì được nhiều người biết đến mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không được nhiều người biết đến và không nổi tiếng,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì sự nổi tiếng ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật nhận được y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng cần thiết cho người bệnh.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta nhận được y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng cần thiết cho người bệnh, còn những tỳ-kheo khác này thì không nhận được những thứ ấy."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
<!-- hết phần 1 -->
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì nhận được những lợi lộc ấy mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không nhận được y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng cần thiết cho người bệnh,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì những lợi lộc ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người học rộng, nghe nhiều.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta học rộng, nghe nhiều, còn những tỳ-kheo khác này thì không học rộng, không nghe nhiều."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì học rộng, nghe nhiều mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không học rộng, không nghe nhiều,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì sự học rộng, nghe nhiều ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người thông thuộc Luật.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta thông thuộc Luật, còn những tỳ-kheo khác này thì không thông thuộc Luật."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì thông thuộc Luật mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không thông thuộc Luật,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì sự thông thuộc Luật ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người thuyết Pháp.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta thuyết Pháp, còn những tỳ-kheo khác này thì không thuyết Pháp."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì thuyết Pháp mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không thuyết Pháp,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc thuyết Pháp ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người sống ở rừng.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta sống ở rừng, còn những tỳ-kheo khác này thì không sống ở rừng."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì sống ở rừng mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không sống ở rừng,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc sống ở rừng ấy.
<!-- hết phần 2 -->
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người mặc y phấn tảo.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta mặc y phấn tảo, còn những tỳ-kheo khác này thì không mặc y phấn tảo."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì mặc y phấn tảo mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không mặc y phấn tảo,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc mặc y phấn tảo ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người chỉ ăn đồ khất thực.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chỉ ăn đồ khất thực, còn những tỳ-kheo khác này thì không chỉ ăn đồ khất thực."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì chỉ ăn đồ khất thực mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không chỉ ăn đồ khất thực,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc chỉ ăn đồ khất thực ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người sống dưới gốc cây.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta sống dưới gốc cây, còn những tỳ-kheo khác này thì không sống dưới gốc cây."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì sống dưới gốc cây mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không sống dưới gốc cây,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc sống dưới gốc cây ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người sống ở nghĩa địa. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta sống ở nghĩa địa, còn những tỳ-kheo khác này thì không sống ở nghĩa địa." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì sống ở nghĩa địa mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy không sống ở nghĩa địa, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc sống ở nghĩa địa ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người sống ngoài trời. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta sống ngoài trời, còn những tỳ-kheo khác này thì không sống ngoài trời." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì sống ngoài trời mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy không sống ngoài trời, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc sống ngoài trời ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người không nằm mà chỉ ngồi. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta không nằm mà chỉ ngồi, còn những tỳ-kheo khác này thì có nằm." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì hạnh không nằm, chỉ ngồi, mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy có nằm, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc không nằm mà chỉ ngồi ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật là người nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn, còn những tỳ-kheo khác này thì không nhận chỗ ngủ như vậy." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Không phải vì nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt. Dù người ấy không nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn, nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán." Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì cách nhận chỗ ngủ nào được dọn sẵn ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Kẻ không chân thật ấy chỉ ăn một lần ngồi trong ngày.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chỉ ăn một lần ngồi trong ngày, còn những tỳ-kheo khác này thì không chỉ ăn một lần ngồi trong ngày."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Không phải vì chỉ ăn một lần ngồi trong ngày mà các pháp tham, các pháp sân, các pháp si đi đến chỗ tận diệt.
Dù người ấy không chỉ ăn một lần ngồi trong ngày,
nhưng nếu người ấy thực hành Pháp tùy Pháp, thực hành cho đúng, sống theo Pháp, thì người ấy vì thế mà đáng kính, vì thế mà đáng tán thán."
Lấy chính sự thực hành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì việc chỉ ăn một lần ngồi trong ngày ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật ly khỏi các dục, ly khỏi các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ và lạc do ly dục sinh.
<!-- hết phần 3 -->
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc thiền-na thứ nhất, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc thiền-na thứ nhất."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc thiền-na thứ nhất, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
[Chú thích: Chữ atammayatā ở đây nghĩa là không do chứng đắc ấy mà thành; xem thêm Trung Bộ 47:13.4. Mục tiêu tu tập của người ấy không dừng lại ở chứng đắc này.]
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
[Chú thích: Câu này cũng xuất hiện ở Kinh Tập 3.8:15.1 và 3.12:52.1, nhưng ở đó không gắn với việc hành thiền.]
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc thiền-na thứ nhất ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật do các tầm và tứ được lắng xuống, đạt được nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh, chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai. Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta chứng đắc thiền-na thứ hai, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc thiền-na thứ hai." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Ngay cả đối với chứng đắc thiền-na thứ hai, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành. Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi." Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc thiền-na thứ hai ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật do ly khỏi hỷ, sống xả, có chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, và chứng đạt an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc Thánh gọi là "xả, có chánh niệm, sống an lạc". Người ấy suy nghĩ như vầy: "Ta chứng đắc thiền-na thứ ba, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc thiền-na thứ ba." Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác. Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật. Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy: "Ngay cả đối với chứng đắc thiền-na thứ ba, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành. Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi." Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc thiền-na thứ ba ấy. Đây cũng là pháp của người chân thật.
Kẻ không chân thật ấy do đoạn trừ lạc và đoạn trừ khổ, trước đó đã làm lắng xuống hỷ và ưu, chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả và chánh niệm thanh tịnh.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc thiền-na thứ tư, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc thiền-na thứ tư."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc thiền-na thứ tư, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc thiền-na thứ tư ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, với sự chấm dứt các tưởng về chướng ngại, không chú ý đến các tưởng về sự sai khác, ý thức rằng "không gian là vô biên", chứng đạt và an trú xứ không gian vô biên.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc xứ không gian vô biên, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc xứ không gian vô biên."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc xứ không gian vô biên, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc xứ không gian vô biên ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật vượt qua hoàn toàn xứ không gian vô biên, ý thức rằng "thức là vô biên", chứng đạt và an trú xứ thức vô biên.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc xứ thức vô biên, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc xứ thức vô biên."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc xứ thức vô biên, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc xứ thức vô biên ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật vượt qua hoàn toàn xứ thức vô biên, ý thức rằng "không có gì cả", chứng đạt và an trú xứ không có gì.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc xứ không có gì, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc xứ không có gì."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc xứ không có gì, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc xứ không có gì ấy.
<!-- hết phần 4 -->
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, kẻ không chân thật vượt qua hoàn toàn xứ không có gì, chứng đạt và an trú xứ phi tưởng phi phi tưởng.
Người ấy suy nghĩ như vầy:
"Ta chứng đắc xứ phi tưởng phi phi tưởng, còn những tỳ-kheo khác này thì không chứng đắc xứ phi tưởng phi phi tưởng."
Vì thế, người ấy tự đề cao mình và hạ thấp người khác.
Đây cũng là pháp của kẻ không chân thật.
Còn người chân thật thì suy nghĩ như vầy:
"Ngay cả đối với chứng đắc xứ phi tưởng phi phi tưởng, Đức Thế Tôn cũng đã nói đến sự không do đó mà thành.
Vì hễ người ta còn tưởng tượng ra sao, thì điều ấy lại hóa ra khác đi."
Lấy chính sự không do đó mà thành làm thước đo, người ấy không tự đề cao mình và không hạ thấp người khác vì chứng đắc xứ phi tưởng phi phi tưởng ấy.
Đây cũng là pháp của người chân thật.
Hơn nữa, này các tỳ-kheo, người chân thật vượt qua hoàn toàn xứ phi tưởng phi phi tưởng, chứng đạt và an trú sự diệt tận của tưởng và thọ. Và sau khi thấy bằng tuệ, các lậu hoặc của người ấy được tận diệt.
"Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ấy không tưởng tượng ra bất cứ điều gì, không tưởng tượng ở bất cứ đâu, không tưởng tượng bằng bất cứ cách nào."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Con Người Chân Thật, bài thứ ba, đã kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.