buppou

Trung Bộ Kinh · bài 64/152

Đại Kinh Māluṅkya

Mahāmālukyasutta

23 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Māluṅkya (Mahāmālukyasutta) là bài kinh thứ sáu mươi tư trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh không kể một câu chuyện ly kỳ; đó là một cuộc đối thoại tại Sāvatthī (Xá-vệ), giữa Đức Thế Tôn, Tôn giả Māluṅkyaputta và Tôn giả Ānanda, bàn về một câu hỏi rất cụ thể: năm thứ trói buộc người ta vào vòng sinh tử được hiểu và được đoạn trừ như thế nào.

Trong kinh, "kiết sử" là những sợi dây trói tâm vào vòng tái sinh. "Năm hạ phần kiết sử" là năm sợi dây thấp nhất, trói chúng sinh vào các cõi thấp: thân kiến (tin rằng trong thân tâm có một cái ta bền vững), hoài nghi về Pháp, giới cấm thủ (chấp chặt vào giới luật và cách hành trì bên ngoài), dục tham và sân hận. Người đã đoạn tận năm sợi dây này được gọi là Bất hoàn, nghĩa là không còn trở lại cõi dục này nữa.

Điểm đặc sắc nhất của bài kinh là cách Đức Thế Tôn làm rõ một điều tưởng như nghịch lý. Tôn giả Māluṅkyaputta trả lời đúng danh sách năm kiết sử, nhưng Đức Thế Tôn lại hỏi vặn: một đứa trẻ sơ sinh có thân kiến không, có hoài nghi không, có chấp thủ giới cấm không, có dục tham không, có sân hận không? Câu trả lời là không, vì đứa bé chưa có những tâm niệm ấy. Thế nhưng ai cũng thấy mầm mống của chúng nằm trong đứa bé, chờ ngày lớn lên. Kinh gọi những mầm mống ấy là "tùy miên": khuynh hướng ngầm, chưa bộc lộ thành hành vi nhưng vẫn ngủ sâu trong tâm và sẽ trỗi dậy khi gặp duyên.

Từ đó, bài kinh phân biệt hai hạng người. Kẻ phàm phu chưa được nghe Pháp thì bị năm kiết sử chế ngự, không biết lối thoát khỏi chúng, nên chúng ăn sâu và tiếp tục trói buộc. Vị thánh đệ tử đã được nghe Pháp thì không bị chế ngự như vậy, biết lối thoát, và đoạn trừ được cả kiết sử lẫn tùy miên của nó. Sự khác biệt không nằm ở việc có hay không có những tâm niệm ấy, mà ở chỗ có nhận ra chúng và có con đường để đi ra hay không.

Phần lớn còn lại của bài kinh mô tả con đường ấy. Đó là bốn tầng thiền-na, tức bốn tầng định sâu lần lượt lắng dịu tầm, tứ, hỷ và lạc, rồi ba tầng vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ và Vô sở hữu xứ. Điều đáng chú ý là mỗi tầng định không phải đích đến; từ mỗi tầng, hành giả quay lại quán năm uẩn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức — là vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, mũi tên, trống không, vô ngã, rồi hướng tâm đến giới bất tử, tức Niết-bàn. Nếu các lậu hoặc, những ô nhiễm sâu kín nhất, được đoạn tận, vị ấy thành A-la-hán; nếu chưa, vị ấy thành Bất hoàn.

Bài kinh khép lại bằng một câu hỏi tinh tế của Tôn giả Ānanda: nếu chỉ có một con đường ấy, vì sao trong Tăng đoàn có vị tâm giải thoát, có vị tuệ giải thoát? Đức Thế Tôn đáp: "Ở đây Ta nói đến sự khác biệt của các căn." Nghĩa là cùng một con đường, nhưng mỗi người có thế mạnh khác nhau về đức tin, tinh tấn, chánh niệm, định và tuệ; sự chín muồi của các căn ấy quyết định người ta nghiêng về giải thoát bằng định hay bằng tuệ. Với người đọc hôm nay, bài kinh là một bản đồ nhỏ nhưng đầy đủ: tu tập không phải là diệt trừ những gì chưa từng có, mà là nhận diện những khuynh hướng ngủ ngầm và đi theo con đường đã được chỉ rõ để chúng không còn chỗ trú.

[Chú thích của người dịch: Mahā nghĩa là lớn; Māluṅkyaputta là tên của vị tỳ-kheo, nghĩa đen là "con trai của Māluṅkya". Tên Đại Kinh Māluṅkya dùng để phân biệt với Tiểu Kinh Māluṅkya (MN 63), cũng xoay quanh vị tỳ-kheo này.]

Mahāmālukyasutta — bài kinh lớn về Māluṅkya, bàn về năm hạ phần kiết sử và con đường đoạn trừ chúng


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, các ông có ghi nhớ năm hạ phần kiết sử mà Ta đã dạy không?"

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Māluṅkyaputta bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con có ghi nhớ năm hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy."

"Nhưng này Māluṅkyaputta, ông ghi nhớ chúng như thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, con ghi nhớ thân kiến là hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy;

[Chú thích: Tương Ưng 45.179 và Tăng Chi 10.13 cũng liệt kê năm kiết sử này. Chúng được gọi là "hạ phần" vì trói buộc chúng sinh vào sự tái sinh trong các cõi thấp.]

[Chú thích của người dịch: "Thân kiến" là quan niệm cho rằng trong thân tâm này có một cái ta hay một thực thể bền vững.]

con ghi nhớ hoài nghi là hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy;

con ghi nhớ giới cấm thủ là hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy;

[Chú thích của người dịch: "Giới cấm thủ" là sự chấp chặt vào giới luật và các cách hành trì bên ngoài, tin rằng chỉ cần giữ chúng là đủ để được thanh tịnh.]

con ghi nhớ dục tham là hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy;

và con ghi nhớ sân hận là hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy.

Bạch Thế Tôn, con ghi nhớ năm hạ phần kiết sử mà Đức Thế Tôn đã dạy là như vậy."

"Này Māluṅkyaputta, ông nhớ năm hạ phần kiết sử này đã được ai dạy như vậy?

[Chú thích: Dù câu trả lời của Māluṅkyaputta không sai, Đức Thế Tôn vẫn dùng giọng mỉa mai. Chú giải nói ông cho rằng kiết sử chỉ hiện hữu khi đang hoạt động, nên Đức Thế Tôn mới dùng hình ảnh đứa trẻ để lay tỉnh ông. So với Tiểu Kinh Māluṅkya (MN 63), ông đã tiến bộ: lần này ông trả lời nghiêm túc một câu hỏi quan trọng và không còn ý định hoàn tục.]

Này Māluṅkyaputta, chẳng phải các du sĩ ngoại đạo sẽ lấy hình ảnh đứa trẻ sơ sinh mà chê trách ông sao?

Vì này Māluṅkyaputta, một đứa trẻ nhỏ, còn nằm ngửa, đến ý niệm về một thân đang hiện hữu cũng chưa có, huống chi thân kiến làm sao khởi lên nơi nó?

Nhưng tùy miên thân kiến vẫn nằm sẵn trong nó.

[Chú thích của người dịch: "Tùy miên" là khuynh hướng ngầm chưa bộc lộ thành hành vi, vẫn nằm ngủ trong tâm và sẽ trỗi dậy khi gặp duyên.]

Vì này Māluṅkyaputta, đứa trẻ nhỏ ấy đến ý niệm về 'pháp' cũng chưa có, huống chi sự hoài nghi về các pháp làm sao khởi lên nơi nó?

Nhưng tùy miên hoài nghi vẫn nằm sẵn trong nó.

Vì này Māluṅkyaputta, đứa trẻ nhỏ ấy đến ý niệm về 'giới' cũng chưa có, huống chi giới cấm thủ đối với các giới làm sao khởi lên nơi nó?

Nhưng tùy miên giới cấm thủ vẫn nằm sẵn trong nó.

Vì này Māluṅkyaputta, đứa trẻ nhỏ ấy đến ý niệm về 'dục lạc' cũng chưa có, huống chi dục tham đối với các dục lạc làm sao khởi lên nơi nó?

Nhưng tùy miên tham dục vẫn nằm sẵn trong nó.

Vì này Māluṅkyaputta, đứa trẻ nhỏ ấy đến ý niệm về 'chúng sinh' cũng chưa có, huống chi sân hận đối với chúng sinh làm sao khởi lên nơi nó?

Nhưng tùy miên sân hận vẫn nằm sẵn trong nó.

Này Māluṅkyaputta, chẳng phải các du sĩ ngoại đạo sẽ lấy hình ảnh đứa trẻ sơ sinh mà chê trách ông sao?"

[Chú thích: Tăng Chi 10.99 và Trung Bộ Kinh 38 cũng có những đoạn bàn về sự phát triển của trẻ nhỏ liên quan đến phiền não.]

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, đã đến lúc! Bạch Thiện Thệ, đã đến lúc!

Mong Đức Thế Tôn dạy năm hạ phần kiết sử; các tỳ-kheo nghe xong sẽ ghi nhớ."

"Vậy thì này Ānanda, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả Ānanda đáp lại Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Ở đây, này Ānanda, kẻ phàm phu chưa được nghe, không thấy các bậc thánh, không thông hiểu Pháp của các bậc thánh, không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; không thấy những người chân thật, không thông hiểu Pháp của những người chân thật, không được huấn luyện trong Pháp của những người chân thật —

người ấy sống với tâm bị thân kiến chế ngự, bị thân kiến trói buộc;

và không như thật biết lối thoát khỏi thân kiến đã sinh khởi.

Thân kiến ấy đã ăn sâu trong người ấy, chưa được dứt trừ, là hạ phần kiết sử.

Người ấy sống với tâm bị hoài nghi chế ngự, bị hoài nghi trói buộc;

và không như thật biết lối thoát khỏi hoài nghi đã sinh khởi.

Hoài nghi ấy đã ăn sâu trong người ấy, chưa được dứt trừ, là hạ phần kiết sử.

Người ấy sống với tâm bị giới cấm thủ chế ngự, bị giới cấm thủ trói buộc;

và không như thật biết lối thoát khỏi giới cấm thủ đã sinh khởi.

Giới cấm thủ ấy đã ăn sâu trong người ấy, chưa được dứt trừ, là hạ phần kiết sử.

Người ấy sống với tâm bị tham dục chế ngự, bị tham dục trói buộc;

và không như thật biết lối thoát khỏi tham dục đã sinh khởi.

Tham dục ấy đã ăn sâu trong người ấy, chưa được dứt trừ, là hạ phần kiết sử.

Người ấy sống với tâm bị sân hận chế ngự, bị sân hận trói buộc;

và không như thật biết lối thoát khỏi sân hận đã sinh khởi."


"Sân hận ấy đã ăn sâu trong người ấy, chưa được dứt trừ, là hạ phần kiết sử.

Nhưng này Ānanda, vị thánh đệ tử đã được nghe, thấy các bậc thánh, thông hiểu Pháp của các bậc thánh, khéo được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; thấy những người chân thật, thông hiểu Pháp của những người chân thật, khéo được huấn luyện trong Pháp của những người chân thật, thì không sống với tâm bị thân kiến chế ngự, không bị thân kiến trói buộc;

và vị ấy như thật biết lối thoát khỏi thân kiến đã sinh khởi.

Thân kiến ấy nơi vị ấy được đoạn trừ, cùng với tùy miên của nó.

Vị ấy không sống với tâm bị hoài nghi chế ngự, không bị hoài nghi trói buộc;

và vị ấy như thật biết lối thoát khỏi hoài nghi đã sinh khởi.

Hoài nghi ấy nơi vị ấy được đoạn trừ, cùng với tùy miên của nó.

Vị ấy không sống với tâm bị giới cấm thủ chế ngự, không bị giới cấm thủ trói buộc;

và vị ấy như thật biết lối thoát khỏi giới cấm thủ đã sinh khởi.

Giới cấm thủ ấy nơi vị ấy được đoạn trừ, cùng với tùy miên của nó.

Vị ấy không sống với tâm bị tham dục chế ngự, không bị tham dục trói buộc;

và vị ấy như thật biết lối thoát khỏi tham dục đã sinh khởi.

Tham dục ấy nơi vị ấy được đoạn trừ, cùng với tùy miên của nó.

Vị ấy không sống với tâm bị sân hận chế ngự, không bị sân hận trói buộc;

và vị ấy như thật biết lối thoát khỏi sân hận đã sinh khởi.

Sân hận ấy nơi vị ấy được đoạn trừ, cùng với tùy miên của nó.

Này Ānanda, có con đường và lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử. Không nương vào con đường ấy, lối thực hành ấy mà biết, thấy hay từ bỏ năm hạ phần kiết sử — điều ấy không thể xảy ra.

Ví như, này Ānanda, một cây lớn đang đứng, có lõi cây: không chặt qua vỏ trong, không chặt qua gỗ giác mà lấy được lõi cây —

điều ấy không thể xảy ra.

Cũng vậy, này Ānanda, có con đường và lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử; không nương vào con đường ấy, lối thực hành ấy mà biết, thấy hay từ bỏ năm hạ phần kiết sử — điều ấy không thể xảy ra.

Nhưng này Ānanda, có con đường và lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử; nương vào con đường ấy, lối thực hành ấy mà biết, thấy hay từ bỏ năm hạ phần kiết sử — điều ấy có thể xảy ra.

Ví như, này Ānanda, một cây lớn đang đứng, có lõi cây: sau khi chặt qua vỏ trong, chặt qua gỗ giác, lấy được lõi cây — điều ấy có thể xảy ra.

Cũng vậy, này Ānanda, có con đường và lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử; nương vào con đường ấy, lối thực hành ấy mà biết, thấy hay từ bỏ năm hạ phần kiết sử — điều ấy có thể xảy ra.

Ví như, này Ānanda, sông Gaṅgā đầy ắp nước, đầy đến tận miệng bờ, đến mức con quạ cũng uống được.

Rồi một người yếu ớt đi đến:

'Ta sẽ dùng hai tay rẽ dòng nước, bơi qua bờ bên kia sông Gaṅgā này một cách an toàn.'

Nhưng người ấy không thể dùng hai tay rẽ dòng nước, bơi qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này Ānanda, khi Pháp được giảng để chấm dứt hữu thân, tâm của những ai không nhảy vào, không tin nhận, không an trú, không được giải thoát;

[Chú thích của người dịch: "Hữu thân" (sakkāya) chỉ thân tâm đang hiện hữu, tức năm uẩn.]

thì những người ấy nên được xem đúng như người yếu ớt kia.

Ví như, này Ānanda, sông Gaṅgā đầy ắp nước, đầy đến tận miệng bờ, đến mức con quạ cũng uống được.

Rồi một người khỏe mạnh đi đến:

'Ta sẽ dùng hai tay rẽ dòng nước, bơi qua bờ bên kia sông Gaṅgā này một cách an toàn.'

Và người ấy có thể dùng hai tay rẽ dòng nước, bơi qua bờ bên kia một cách an toàn.

Cũng vậy, này Ānanda, khi Pháp được giảng để chấm dứt hữu thân, tâm của những ai nhảy vào, tin nhận, an trú, được giải thoát;

thì những người ấy nên được xem đúng như người khỏe mạnh kia.

Vậy này Ānanda, con đường nào và lối thực hành nào để từ bỏ năm hạ phần kiết sử?

Ở đây, này Ānanda, một tỳ-kheo nhờ ly khỏi những gì mình bám víu, nhờ từ bỏ các pháp bất thiện, nhờ làm lắng dịu hoàn toàn sự nặng nề của thân, nên ly hẳn các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, với hỷ và lạc sinh ra từ sự ly dục.

[Chú thích: Mệnh đề mở đầu này là phần thêm riêng, không có trong công thức thiền-na chuẩn. Về sau, upadhiviveka (ly khỏi những gì mình bám víu) được hiểu là quả vị A-la-hán, nhưng ở đây hẳn chỉ có nghĩa nhẹ hơn, có lẽ là để lại những vật chất mà mình còn bám vào. Về "sự nặng nề của thân", xem Trung Bộ Kinh 127.]

Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

[Chú thích: Đoạn này cho thấy tuệ quán được phát triển trực tiếp từ tầng định vừa chứng.]

Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy.

Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử:

'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.'

Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc.

Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Đây cũng là con đường, này Ānanda, là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do làm lắng dịu tầm và tứ, với sự an tịnh bên trong, với nhất tâm, không tầm không tứ, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ hai, có hỷ và lạc sinh ra từ định. Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do ly hỷ, trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được lạc; vị ấy chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'trú trong lạc với xả và chánh niệm'. Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã. Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do từ bỏ lạc, do từ bỏ khổ, và do sự chấm dứt của hỷ và ưu có từ trước, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.

Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc sắc, thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn,

không còn trở lại từ thế giới ấy nữa."


"Đây cũng là con đường, này Ānanda, là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, do các tưởng đối kháng chấm dứt, do không tác ý đến các tưởng sai biệt, với ý niệm 'Hư không là vô biên', chứng đạt và an trú Không vô biên xứ.

Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn,

không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Đây cũng là con đường, này Ānanda, là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, với ý niệm 'Thức là vô biên', chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ.

Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn,

không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Đây cũng là con đường, này Ānanda, là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử.

Lại nữa, này Ānanda, một tỳ-kheo do vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, với ý niệm 'Không có gì cả', chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ.

Vị ấy quán thấy các pháp ở đó — những gì thuộc thọ, thuộc tưởng, thuộc hành, thuộc thức — là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là nỗi khổ não, là sự ốm đau, là cái xa lạ, là cái đang hoại, là trống không, là vô ngã.

Vị ấy quay tâm lại khỏi các pháp ấy. Sau khi quay tâm lại khỏi các pháp ấy, vị ấy hướng tâm đến giới bất tử: 'Đây là an tịnh, đây là thù thắng, đó là sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.' Vị ấy an trú ở đó và đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự diệt tận các lậu hoặc, thì nhờ chính lòng tham đối với pháp ấy và niềm vui đối với pháp ấy, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sinh, tại đó nhập Niết-bàn,

không còn trở lại từ thế giới ấy nữa.

Đây cũng là con đường, này Ānanda, là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử."

[Chú thích: Tầng vô sắc cuối cùng, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, không được nêu ở đây, cũng như ở Trung Bộ Kinh 52.]

"Bạch Thế Tôn, nếu đây là con đường, đây là lối thực hành để từ bỏ năm hạ phần kiết sử, thì vì sao ở đây có những tỳ-kheo tâm giải thoát, những tỳ-kheo tuệ giải thoát?"

[Chú thích: "Tâm giải thoát" và "tuệ giải thoát" cho thấy sự nhấn mạnh vào định hay vào tuệ, theo thứ tự ấy.]

"Này Ānanda, ở đây Ta nói đến sự khác biệt của các căn."

[Chú thích: Đức Thế Tôn cũng nói điều này ở Tương Ưng 48.13 và 48.16; về "sự khác biệt của các căn", xem thêm Trung Bộ Kinh 66.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Đại Māluṅkya, bài thứ tư, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Dòng kết này là lời ghi của truyền bản Pali, đánh dấu bài kinh thứ tư trong một nhóm bài của bộ kinh; nó không phải số thứ tự 64 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →