Trung Bộ Kinh · bài 63/152
Tiểu Kinh Māluṅkya
Cūḷamālukyasutta
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Māluṅkya (Cūḷamālukyasutta) là bài kinh thứ sáu mươi ba trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh ngắn, gần như chỉ là một cuộc đối thoại, diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), nơi Đức Thế Tôn đang trú trong tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Nhân vật chính là Tôn giả Māluṅkyaputta, một vị tỳ-kheo (nhà sư) xuất thân từ xứ Kosala. Khi sống một mình nơi vắng vẻ, ông bị ám ảnh bởi mười câu hỏi mà Đức Thế Tôn chưa từng trả lời, và ông quyết định đến hỏi Ngài, với một điều kiện ngang ngược: nếu không có câu trả lời, ông sẽ từ bỏ việc tu học và hoàn tục.
Mười câu hỏi ấy là những vấn đề lớn của thời đại: thế giới là thường hằng hay vô thường, có giới hạn hay không có giới hạn; linh hồn và thân xác là một hay là hai thứ khác nhau; sau khi chết, một bậc đã giác ngộ còn tồn tại, không tồn tại, vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay không tồn tại cũng không phải không tồn tại. Với Māluṅkyaputta, đây không phải chuyện tò mò: ông muốn biết rốt ráo trước khi chịu bỏ cả đời để tu tập. Cảm giác ấy không xa lạ với người hôm nay, khi ai cũng muốn có câu trả lời chắc chắn trước khi dấn thân vào một điều gì.
Đức Thế Tôn không trả lời mười câu hỏi ấy. Ngài hỏi lại: Ta có từng nói với ông rằng hãy đến tu dưới sự chỉ dạy của Ta, rồi Ta sẽ trả lời những điều ấy không? Và ông có từng nói với Ta rằng ông sẽ tu chỉ để đổi lấy những câu trả lời ấy không? Ông đáp là không. Cuộc trao đổi ấy cho thấy một điều đơn giản: không ai giao kèo như vậy, nên không ai có quyền đòi. Rồi Đức Thế Tôn kể câu chuyện về người bị mũi tên tẩm thuốc độc bắn trúng.
Người ấy có bạn bè, bà con mời thầy thuốc đến. Nhưng anh ta nhất định không cho rút mũi tên ra trước khi biết người bắn mình thuộc giai cấp nào, tên gì, dòng họ gì, cao lùn ra sao, da màu gì, đến từ làng nào; rồi còn muốn biết cây cung, dây cung, thân tên, lông gắn đuôi tên, gân quấn thân tên và đầu mũi tên làm bằng gì. Khi còn đang hỏi, anh ta chết vì thuốc độc. Đức Thế Tôn không nói rằng những câu hỏi ấy vô nghĩa; Ngài chỉ ra rằng chúng không phải việc cấp bách nhất lúc này. Mũi tên đang nằm trong thân, và thuốc độc không chờ ai hiểu rõ lai lịch người bắn.
Phần còn lại của bài kinh là lời dạy về điều Đức Thế Tôn có trả lời và điều Ngài để qua một bên. Những câu hỏi siêu hình không dẫn đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn, nên Ngài không trả lời. Điều Ngài trả lời là bốn sự thật: đây là khổ, đây là nguồn gốc của khổ, đây là sự diệt tận của khổ, và đây là con đường dẫn đến sự diệt tận ấy. Bốn sự thật này có ích, thuộc nền tảng của đời sống phạm hạnh, và dẫn đến giải thoát. Với người đọc hôm nay, bài kinh không khuyên bỏ mọi câu hỏi lớn; nó nhắc rằng giữa điều tò mò và điều đang bức bách, người ta phải biết cái nào cần trước.
[Chú thích của người dịch: Cūḷa nghĩa là nhỏ, ngắn; tên này phân biệt bài kinh với Đại Kinh Māluṅkya (MN 64), cũng xoay quanh vị tỳ-kheo này.]
Cūḷamālukyasutta — bài kinh ngắn về Māluṅkyaputta, bàn về những câu hỏi siêu hình mà Đức Thế Tôn để qua một bên
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi khi Tôn giả Māluṅkyaputta đang ở nơi vắng vẻ, sống độc cư, ý nghĩ này khởi lên trong tâm:
[Chú thích: Chú giải Pali nói Māluṅkyaputta là con của bà Māluṅkyā xứ Kosala (Câu-tát-la). Kinh này và Đại Kinh Māluṅkya (MN 64) khắc họa ông là người còn non nớt, nhưng ông bền chí tu tập và cuối đời đắc quả A-la-hán.]
"Những kiến chấp mà Đức Thế Tôn không trả lời, đã gác lại, đã khước từ:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
những điều ấy Đức Thế Tôn không trả lời cho con.
Những điều Đức Thế Tôn không trả lời cho con, con không ưa, con không chấp nhận.
Con sẽ đến gặp Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về việc này.
Nếu Đức Thế Tôn trả lời cho con:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
thì con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn.
Nếu Đức Thế Tôn không trả lời cho con:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
thì con sẽ từ bỏ việc tu học và hoàn tục."
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Māluṅkyaputta ra khỏi chỗ độc cư, đến gặp Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Māluṅkyaputta bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, ở đây, khi con đang ở nơi vắng vẻ, sống độc cư, ý nghĩ này khởi lên trong tâm:
những kiến chấp mà Đức Thế Tôn không trả lời, đã gác lại, đã khước từ:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
những điều ấy Đức Thế Tôn không trả lời cho con.
Những điều Đức Thế Tôn không trả lời cho con, con không ưa, con không chấp nhận.
Con sẽ đến gặp Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về việc này.
Nếu Đức Thế Tôn trả lời cho con:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
thì con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn.
Nếu Đức Thế Tôn không trả lời cho con:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
thì con sẽ từ bỏ việc tu học và hoàn tục.
Nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'thế giới là thường hằng', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'thế giới là thường hằng';
nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'thế giới là vô thường', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'thế giới là vô thường'.
Nếu Đức Thế Tôn không biết:
'thế giới là thường hằng' hay 'thế giới là vô thường', thì khi không biết, không thấy, chỉ có một điều ngay thẳng là nói rằng:
'Ta không biết, Ta không thấy'.
Nếu Đức Thế Tôn biết:
'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con.
[Chú thích của người dịch: Bản Pali nêu liền hai mệnh đề có giới hạn và không có giới hạn trước lời yêu cầu trả lời, khác với khuôn ở các đoạn trước.]
nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'thế giới không có giới hạn', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'thế giới không có giới hạn'.
Nếu Đức Thế Tôn không biết:
'thế giới có giới hạn' hay 'thế giới không có giới hạn', thì khi không biết, không thấy, chỉ có một điều ngay thẳng là nói rằng:
'Ta không biết, Ta không thấy'.
Nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'linh hồn và thân xác là một', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'linh hồn và thân xác là một';
nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác'."
"Nếu Đức Thế Tôn không biết:
'linh hồn và thân xác là một' hay 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', thì khi không biết, không thấy, chỉ có một điều ngay thẳng là nói rằng:
'Ta không biết, Ta không thấy'.
Nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại';
nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại'.
Nếu Đức Thế Tôn không biết:
'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại' hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', thì khi không biết, không thấy, chỉ có một điều ngay thẳng là nói rằng:
'Ta không biết, Ta không thấy'.
Nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại';
nếu Đức Thế Tôn biết:
rằng 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại', thì xin Đức Thế Tôn trả lời cho con: 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại'.
Nếu Đức Thế Tôn không biết:
'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại' hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại', thì khi không biết, không thấy, chỉ có một điều ngay thẳng là nói rằng:
'Ta không biết, Ta không thấy'."
"Này Māluṅkyaputta, Ta có từng nói với ông như vầy không:
'Hãy đến đây, này Māluṅkyaputta, sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta, Ta sẽ trả lời cho ông những điều này:
thế giới là thường hằng, hay thế giới là vô thường, hay thế giới có giới hạn, hay thế giới không có giới hạn, hay linh hồn và thân xác là một, hay linh hồn là một thứ và thân xác là thứ khác, hay sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại'?"
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
"Hay ông đã từng nói với Ta như vầy:
'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, và Đức Thế Tôn sẽ trả lời cho con những điều này:
thế giới là thường hằng, hay thế giới là vô thường, hay thế giới có giới hạn, hay thế giới không có giới hạn, hay linh hồn và thân xác là một, hay linh hồn là một thứ và thân xác là thứ khác, hay sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại'?"
"Không phải vậy, bạch Thế Tôn."
"Vậy ra, này Māluṅkyaputta, Ta đã không nói với ông:
'Hãy đến đây, này Māluṅkyaputta, sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta, Ta sẽ trả lời cho ông những điều này:
thế giới là thường hằng, hay thế giới là vô thường, hay thế giới có giới hạn, hay thế giới không có giới hạn, hay linh hồn và thân xác là một, hay linh hồn là một thứ và thân xác là thứ khác, hay sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại,
hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại';
và ông cũng đã không nói với Ta:
'Bạch Thế Tôn, con sẽ sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn, và Đức Thế Tôn sẽ trả lời cho con những điều này:
thế giới là thường hằng, hay thế giới là vô thường, hay thế giới có giới hạn, hay thế giới không có giới hạn, hay linh hồn và thân xác là một, hay linh hồn là một thứ và thân xác là thứ khác, hay sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại, hay sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại,
hay sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại'.
Nếu đã vậy, này kẻ ngu si, ông là ai và ông từ bỏ điều gì?"
Này Māluṅkyaputta, nếu có người nói như vầy:
"Ta sẽ không sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn cho đến khi Đức Thế Tôn trả lời cho ta:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại',
thì này Māluṅkyaputta, điều ấy Như Lai vẫn chưa trả lời, và người ấy sẽ chết."
Ví như, này Māluṅkyaputta, có người bị bắn trúng bởi một mũi tên tẩm thuốc độc đặc quánh.
Bạn bè, thân hữu, bà con, họ hàng của người ấy sẽ mời một thầy thuốc chuyên mổ lấy mũi tên đến chữa trị.
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết người đã bắn ta là vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, hay nô lệ."
[Chú thích: Trong bộ Aṣṭāṅgahṛdayasaṁhitā của y học Ayurveda, Vāgbhaṭa dành trọn chương 1.28 để trình bày cách mổ lấy mũi tên.]
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết người đã bắn ta tên gì, dòng họ gì."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết người đã bắn ta cao, lùn, hay tầm thước."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết người đã bắn ta da đen, da nâu, hay da xanh xám."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết người đã bắn ta đến từ làng nào, thị trấn nào, hay thành phố nào."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết cây cung đã bắn ta là cung thẳng hay cung cong."
[Chú thích: Dhanu là từ chung chỉ cây cung; cāpa và kodaṇḍa là hai loại cung riêng. Có lẽ kodaṇḍa là cung cong mà kỵ binh ưa dùng, còn cāpa là cung thẳng.]
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết dây cung làm bằng sợi cây akka, sợi cây saṇa, gân, sợi cây maruvā, hay sợi cây khīrapaṇṇī."
[Chú thích: Cách nhận diện các loại sợi này theo ghi chú của Ñāṇatusita trong bản dịch của Bhikkhu Bodhi.]
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết thân tên làm bằng gỗ cây bụi hay gỗ cây trồng."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết thân tên được gắn lông của kên kên, diệc, ó, công, hay cò."
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết thân tên được quấn bằng gân của bò, trâu, sư tử đen, hay khỉ."
[Chú thích: Bherava nghĩa là 'kẻ làm kinh sợ', còn semhāra không rõ nghĩa; chú giải giải thích hai tên này là sư tử đen và khỉ.]
Người ấy sẽ nói như vầy:
"Ta sẽ không rút mũi tên này ra cho đến khi ta biết đầu mũi tên là loại mũi nhọn, loại nhọn như dao cạo, loại có ngạnh, loại bằng sắt, loại bằng răng bê, hay loại hình lá cây karavīra."
[Chú thích: Tên các loại đầu mũi tên theo Ñāṇatusita. Bê con mất răng sữa, còn rễ răng thì khá nhọn, nên răng bê được dùng làm mũi nhọn.]
Này Māluṅkyaputta, người ấy sẽ chết mà vẫn chưa biết được những điều ấy.
Cũng vậy, này Māluṅkyaputta, nếu có người nói như vầy:
"Ta sẽ không sống đời phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Đức Thế Tôn cho đến khi Đức Thế Tôn trả lời cho ta:
'thế giới là thường hằng', 'thế giới là vô thường', 'thế giới có giới hạn', 'thế giới không có giới hạn', 'linh hồn và thân xác là một', 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
hay 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' —
thì này Māluṅkyaputta, điều ấy Như Lai vẫn chưa trả lời, và người ấy sẽ chết."
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'thế giới là thường hằng' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Không phải vậy.
[Chú thích: Đây là câu điều kiện kép: nếu có kiến chấp ấy thì đời sống phạm hạnh có theo sau hay không; câu trả lời là không. Cách nói này nhại lại những điều kiện Māluṅkyaputta vừa nêu.]
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'thế giới là vô thường' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Cũng không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, khi có kiến chấp 'thế giới là thường hằng' hay khi có kiến chấp 'thế giới là vô thường', thì vẫn có sinh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não;
và Ta tuyên bố sự đoạn diệt của chúng ngay trong đời này.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'thế giới có giới hạn' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'thế giới không có giới hạn' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Cũng không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, khi có kiến chấp 'thế giới có giới hạn' hay khi có kiến chấp 'thế giới không có giới hạn', thì vẫn có sinh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não;
và Ta tuyên bố sự đoạn diệt của chúng ngay trong đời này.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'linh hồn và thân xác là một' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Cũng không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, khi có kiến chấp 'linh hồn và thân xác là một' hay khi có kiến chấp 'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác', thì vẫn có sinh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não;
và Ta tuyên bố sự đoạn diệt của chúng ngay trong đời này.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Cũng không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, khi có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại' hay khi có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại', thì vẫn có sinh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não;
và Ta tuyên bố sự đoạn diệt của chúng ngay trong đời này.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, nếu có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại' thì có phải vì thế mà người ta sống được đời phạm hạnh hay không? Cũng không phải vậy.
Này Māluṅkyaputta, khi có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại' hay khi có kiến chấp 'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại', thì vẫn có sinh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não;
và Ta tuyên bố sự đoạn diệt của chúng ngay trong đời này.
Vì vậy, này Māluṅkyaputta, hãy ghi nhớ điều Ta không trả lời là điều không trả lời,
và điều Ta trả lời là điều trả lời.
Và này Māluṅkyaputta, Ta đã không trả lời những gì?
'thế giới là thường hằng', này Māluṅkyaputta, Ta đã không trả lời;
'thế giới là vô thường',
Ta đã không trả lời;
'thế giới có giới hạn',
Ta đã không trả lời;
'thế giới không có giới hạn',
Ta đã không trả lời;
'linh hồn và thân xác là một',
Ta đã không trả lời;
'linh hồn là một thứ, thân xác là thứ khác',
Ta đã không trả lời;
'sau khi chết, Như Lai vẫn tồn tại',
Ta đã không trả lời;
'sau khi chết, Như Lai không tồn tại',
Ta đã không trả lời;
'sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại',
Ta đã không trả lời;
'sau khi chết, Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại',
Ta đã không trả lời.
Vì sao, này Māluṅkyaputta, Ta đã không trả lời những điều ấy?
Vì này Māluṅkyaputta, chúng không có lợi ích, không thuộc nền tảng của đời sống phạm hạnh, không dẫn đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vì vậy, Ta đã không trả lời chúng.
Và này Māluṅkyaputta, Ta đã trả lời những gì?
'Đây là khổ', này Māluṅkyaputta, Ta đã trả lời;
'Đây là nguồn gốc của khổ',
Ta đã trả lời;
'Đây là sự diệt tận của khổ',
Ta đã trả lời;
'Đây là con đường dẫn đến sự diệt tận của khổ',
Ta đã trả lời.
Vì sao, này Māluṅkyaputta, Ta đã trả lời những điều ấy?
Vì này Māluṅkyaputta, chúng có lợi ích, thuộc nền tảng của đời sống phạm hạnh, dẫn đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vì vậy, Ta đã trả lời chúng.
Vì vậy, này Māluṅkyaputta, hãy ghi nhớ điều Ta không trả lời là điều không trả lời,
và điều Ta trả lời là điều trả lời.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Tôn giả Māluṅkyaputta hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Tiểu Kinh Māluṅkya, bài thứ ba, đã hoàn thành.
[Chú thích của người dịch: Dòng này do truyền bản ghi thêm; bài thứ ba là số thứ tự trong phẩm, không phải số 63 của Trung Bộ Kinh.]
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.