buppou

Trung Bộ Kinh · bài 32/152

Đại Kinh Rừng Gosiṅga

Mahāgosiṅga Sutta — bài kinh lớn, giảng tại khu rừng sa-la Gosiṅga

23 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đại Kinh Rừng Gosiṅga (Mahāgosiṅga Sutta) là bài kinh thứ ba mươi hai trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài được giảng tại một khu rừng cây sa-la mang tên Gosiṅga, nơi Đức Thế Tôn đang tạm trú cùng một nhóm đệ tử xuất sắc nhất của Ngài. Câu chuyện diễn ra vào một buổi chiều, và hầu như toàn bộ bài kinh chỉ là cuộc nói chuyện giữa sáu vị tỳ-kheo: Sāriputta, Mahāmoggallāna, Mahākassapa, Anuruddha, Revata và Ānanda.

Câu hỏi mở đầu rất giản dị. Sāriputta nhìn cảnh rừng về đêm, cây sa-la nở đầy hoa, hương thơm lan trong không khí, rồi hỏi từng vị: khu rừng này đẹp như vậy, thế một vị tỳ-kheo như thế nào mới làm cho nó thật sự rạng rỡ? Mỗi người trả lời theo cách mình sống và hiểu: Ānanda nói về người học rộng; Revata nói về người ưa ẩn cư và tu thiền; Anuruddha nói về người có thiên nhãn; Mahākassapa nói về người sống khổ hạnh; Mahāmoggallāna nói về hai người cùng bàn luận Pháp; Sāriputta nói về người làm chủ được tâm mình.

Điều thú vị là không ai trong sáu vị tranh cãi. Sāriputta lần lượt hỏi, ai cũng trả lời, rồi cả nhóm cùng đến gặp Đức Thế Tôn để trình lại. Ngài khen tất cả: mỗi người đã nói đúng theo cách của mình. Rồi Ngài đưa ra câu trả lời của chính Ngài, khác hẳn về hướng: một vị tỳ-kheo ngồi xuống sau bữa ăn, dựng thân thẳng, và tự hứa sẽ không đứng dậy cho đến khi tâm được giải thoát khỏi mọi lậu hoặc.

Có thể đọc bài kinh này như một bức chân dung tập thể. Sáu vị đại đệ tử, mỗi vị nổi tiếng về một mặt, và mỗi câu trả lời phản chiếu đúng con đường mà vị ấy đã đi. Khu rừng đẹp không phải vì cây cối mà vì những con người đang tu tập ở đó; và sự tu tập ấy có nhiều cửa vào, gồm học hiểu, thiền định, tuệ quán, hạnh khổ hạnh, giảng dạy và làm chủ tâm. Với người mới tìm hiểu đạo Phật, đây là một bài kinh dễ chịu: không có giáo lý trừu tượng, chỉ có những con người đang nói với nhau về cách sống cho tốt.

Khi đọc, bạn sẽ thấy những câu được lặp đi lặp lại gần như nguyên văn: lời mô tả khu rừng, câu hỏi về vị tỳ-kheo, câu kết luận. Đó không phải là văn kém; đó là cách bài kinh xây nhịp, và mỗi lần lặp là một lần câu trả lời mới được đặt cạnh những câu trả lời trước đó. Cứ đọc hết, đến phần Đức Thế Tôn trả lời thì ý nghĩa của cả bài sẽ hiện ra.

[Chú thích của người dịch: Mahā là lớn, Gosiṅga là tên khu rừng; bài này là bản dài, đứng sau Tiểu Kinh Rừng Gosiṅga (MN 31).]


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại khu rừng sa-la Gosiṅga, cùng với nhiều vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng.

[Chú thích: Theo Tiểu Kinh Rừng Gosiṅga (MN 31), khu vườn này nằm gần Ñātika, thuộc xứ Vajjī.]

Đó là Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahāmoggallāna (Mục-kiền-liên), Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca-diếp), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ānanda (A-nan), cùng nhiều vị trưởng lão đệ tử nổi tiếng khác.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Mahāmoggallāna xuất khỏi sự ẩn cư, đến chỗ Tôn giả Mahākassapa; đến nơi, ngài nói với Tôn giả Mahākassapa:

"Thưa Tôn giả Kassapa, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp."

"Thưa vâng, Tôn giả," Tôn giả Mahākassapa đáp lời Tôn giả Mahāmoggallāna.

Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Anuruddha cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp.

Tôn giả Ānanda thấy Tôn giả Mahāmoggallāna, Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Anuruddha đang đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp.

Thấy vậy, ngài đến chỗ Tôn giả Revata; đến nơi, ngài nói với Tôn giả Revata:

"Thưa Tôn giả Revata, những bậc thiện nhân kia đang đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp.

Thưa Tôn giả Revata, chúng ta hãy đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp."

"Thưa vâng, Tôn giả," Tôn giả Revata đáp lời Tôn giả Ānanda.

Rồi Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda cùng đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta để nghe Pháp.

Tôn giả Sāriputta thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda từ đằng xa đi lại.

Thấy vậy, ngài nói với Tôn giả Ānanda:

"Xin mời Tôn giả Ānanda lại đây.

Chào mừng Tôn giả Ānanda, thị giả của Đức Thế Tôn, người thường cận kề Đức Thế Tôn.

Thưa Tôn giả Ānanda, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"

"Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào thiện ở đầu, thiện ở giữa, thiện ở cuối, có ý nghĩa, có văn tự, tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, thì những pháp như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thuộc lòng bằng lời, quán xét bằng ý, thấu suốt rõ bằng tri kiến.

[Chú thích: Ānanda nổi tiếng là vị tỳ-kheo nghe nhiều nhất trong Tăng đoàn.]

Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng bằng những từ ngữ và câu chữ tròn đầy, liền mạch, để nhổ lên các tùy miên.

[Chú thích: Ānanda thường nhắc đến đủ cả bốn hội chúng: tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ.]

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta."

Khi Tôn giả Ānanda nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Revata:

"Thưa Tôn giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:

Thưa Tôn giả Revata, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"

"Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo ưa thích ẩn cư, đam mê ẩn cư, chuyên tâm vào sự lặng yên của tâm bên trong, không xa lìa thiền-na, đầy đủ thiền quán, và thường lui tới những căn nhà trống.

[Chú thích: Thời kỳ đầu có hai vị Revata nổi tiếng. Vị ở đây nhiều khả năng là Revata hay nghi ngờ, người giỏi nhất về thiền-na; thuở mới xuất gia ông từng dao động vì những chuyện nhỏ, sau vượt qua được, nhưng biệt danh ấy vẫn ở lại.]

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta."

Khi Tôn giả Revata nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

"Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha:

Thưa Tôn giả Anuruddha, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"

"Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, quán sát một ngàn thế giới.

[Chú thích: Anuruddha được xem là vị đứng đầu về thiên nhãn. Động từ voloketi ở đây là cách nói trang trọng, chỉ dùng cho khả năng của ông và cho lúc Đức Thế Tôn quán sát thế gian.]

Ví như, thưa Tôn giả Sāriputta, một người có mắt sáng, từ tầng trên của một tòa lầu đài nguy nga, quán sát một ngàn vòng vành bánh xe;

[Chú thích: nemimaṇḍala nghĩa đen là vành bánh xe, nhưng ở đây có thể chỉ những vòng quỹ đạo của các vì sao. Một bản Hán tương ứng lại hiểu thành một ngàn viên gạch, cho thấy hình ảnh này đã gây lúng túng từ xưa. Có lẽ nên hình dung một vị vua đứng trên lầu cao ngắm bầu trời.]

cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, quán sát một ngàn thế giới.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta."

Khi Tôn giả Anuruddha nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākassapa:

"Thưa Tôn giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahākassapa:

Thưa Tôn giả Kassapa, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"

"Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo tự mình sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng; tự mình đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y; tự mình ít ham muốn và tán thán sự ít ham muốn; tự mình biết đủ và tán thán sự biết đủ; tự mình sống viễn ly và tán thán sự viễn ly; tự mình không giao thiệp và tán thán sự không giao thiệp; tự mình siêng năng tinh tấn và tán thán sự siêng năng tinh tấn; tự mình đầy đủ giới và tán thán sự thành tựu về giới; tự mình đầy đủ định và tán thán sự thành tựu về định; tự mình đầy đủ tuệ và tán thán sự thành tựu về tuệ; tự mình đầy đủ giải thoát và tán thán sự thành tựu về giải thoát; tự mình đầy đủ tri kiến giải thoát và tán thán sự thành tựu về tri kiến giải thoát.

[Chú thích: Mahākassapa nổi tiếng với lối sống khổ hạnh, được xem là vị đứng đầu trong hạnh đầu-đà.]

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta."

Khi Tôn giả Mahākassapa nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:

"Thưa Tôn giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna:

Thưa Tôn giả Moggallāna, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"


"Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, hai vị tỳ-kheo bàn luận về Pháp. Họ hỏi nhau những câu hỏi, trả lời những câu hỏi của nhau mà không hề vấp, và câu chuyện về Pháp của họ cứ tiếp diễn.

[Chú thích: Trong các bài kinh, abhidhamma có nghĩa là nói về Pháp. Điều đáng chú ý là Moggallāna vốn nổi tiếng về thần thông, và các bản Hán tương ứng cùng những mảnh Phạn văn đều nói ông ca ngợi thần thông; có lẽ chỗ này trong văn bản Pali đã bị chép lệch.]

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta."

Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Tôn giả Sāriputta:

"Thưa Tôn giả Sāriputta, tất cả chúng tôi đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sāriputta:

Thưa Tôn giả Sāriputta, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?"

"Ở đây, thưa Tôn giả Moggallāna, vị tỳ-kheo làm chủ được tâm mình, không bị tâm chi phối.

[Chú thích: Có thể người ta trông đợi Sāriputta ca ngợi tuệ, nhưng các bản tương ứng đều nhất trí ở điểm này. Ông cũng nói tương tự về sự làm chủ tâm trong Tương Ưng Bộ Kinh (SN 46.4).]

Buổi sáng, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi chiều.

Ví như, thưa Tôn giả Moggallāna, một vị vua hay một đại thần của vua có một rương đầy những tấm vải đủ màu.

Buổi sáng, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi chiều.

Cũng vậy, thưa Tôn giả Moggallāna, vị tỳ-kheo làm chủ được tâm mình, không bị tâm chi phối.

Buổi sáng, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi chiều.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Moggallāna."

Rồi Tôn giả Sāriputta nói với các vị ấy:

"Thưa các Tôn giả, tất cả chúng tôi đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Thưa các Tôn giả, chúng ta hãy đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, chúng ta sẽ trình bày việc này với Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy."

"Thưa vâng, Tôn giả," các vị ấy đáp lời Tôn giả Sāriputta.

Rồi các vị ấy đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Sāriputta ngồi một bên, bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda đã đến chỗ con để nghe Pháp.

Bạch Thế Tôn, con thấy Tôn giả Revata và Tôn giả Ānanda từ đằng xa đi lại.

Thấy vậy, con nói với Tôn giả Ānanda:

'Xin mời Tôn giả Ānanda lại đây.

Chào mừng Tôn giả Ānanda, thị giả của Đức Thế Tôn, người thường cận kề Đức Thế Tôn.

Thưa Tôn giả Ānanda, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi con nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào thiện ở đầu, thiện ở giữa, thiện ở cuối, có ý nghĩa, có văn tự, tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, thì những pháp như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thuộc lòng bằng lời, quán xét bằng ý, thấu suốt rõ bằng tri kiến. Vị ấy thuyết pháp cho bốn hội chúng bằng những từ ngữ và câu chữ tròn đầy, liền mạch,

để nhổ lên các tùy miên.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta.'"

"Lành thay, lành thay, này Sāriputta!

Quả thật, Ānanda đã trả lời đúng cách.

Vì này Sāriputta, Ānanda nghe nhiều, ghi nhớ điều đã nghe, tích lũy điều đã nghe. Những pháp nào thiện ở đầu, thiện ở giữa, thiện ở cuối, có ý nghĩa, có văn tự, tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh, thì những pháp như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, thuộc lòng bằng lời, quán xét bằng ý, thấu suốt rõ bằng tri kiến.

Ānanda thuyết pháp cho bốn hội chúng bằng những từ ngữ và câu chữ tròn đầy, liền mạch, để nhổ lên các tùy miên."

"Bạch Thế Tôn, khi ấy con nói với Tôn giả Revata:

'Thưa Tôn giả Revata, Tôn giả Ānanda đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Revata:

Thưa Tôn giả Revata, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi ấy Tôn giả Revata nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo ưa thích ẩn cư, đam mê ẩn cư, chuyên tâm vào sự lặng yên của tâm bên trong, không xa lìa thiền-na, đầy đủ thiền quán, và thường lui tới những căn nhà trống.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta.'"

"Lành thay, lành thay, này Sāriputta!"


"Quả thật, Revata đã trả lời đúng cách.

Vì này Sāriputta, Revata ưa thích ẩn cư, đam mê ẩn cư, chuyên tâm vào sự lặng yên của tâm bên trong, không xa lìa thiền-na, đầy đủ thiền quán, và thường lui tới những căn nhà trống."

"Bạch Thế Tôn, khi ấy con nói với Tôn giả Anuruddha:

'Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Revata đã trả lời theo cảm hứng của mình. Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Anuruddha: khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi ấy Tôn giả Anuruddha nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, quán sát một ngàn thế giới.

Ví như, thưa Tôn giả Sāriputta, một người có mắt sáng, từ tầng trên của một tòa lầu đài nguy nga, quán sát một ngàn vòng vành bánh xe; cũng vậy, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, quán sát một ngàn thế giới.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta.'"

"Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Quả thật, Anuruddha đã trả lời đúng cách.

Vì này Sāriputta, Anuruddha bằng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, quán sát một ngàn thế giới."

"Bạch Thế Tôn, khi ấy con nói với Tôn giả Mahākassapa:

'Thưa Tôn giả Kassapa, Tôn giả Anuruddha đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahākassapa: khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi ấy Tôn giả Mahākassapa nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, vị tỳ-kheo tự mình sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng; tự mình đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; tự mình chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y; tự mình ít ham muốn và tán thán sự ít ham muốn; tự mình biết đủ và tán thán sự biết đủ; tự mình sống viễn ly và tán thán sự viễn ly; tự mình không giao thiệp và tán thán sự không giao thiệp; tự mình siêng năng tinh tấn và tán thán sự siêng năng tinh tấn; tự mình đầy đủ giới và tán thán sự thành tựu về giới; tự mình đầy đủ định và tán thán sự thành tựu về định; tự mình đầy đủ tuệ và tán thán sự thành tựu về tuệ; tự mình đầy đủ giải thoát và tán thán sự thành tựu về giải thoát; tự mình đầy đủ tri kiến giải thoát và tán thán sự thành tựu về tri kiến giải thoát.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta.'"

"Lành thay, lành thay, này Sāriputta!

Quả thật, Kassapa đã trả lời đúng cách.

Vì này Sāriputta, Kassapa tự mình sống ở rừng và tán thán hạnh sống ở rừng, tự mình đi khất thực và tán thán hạnh khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình chỉ dùng ba y và tán thán hạnh chỉ dùng ba y, tự mình ít ham muốn và tán thán sự ít ham muốn, tự mình biết đủ và tán thán sự biết đủ, tự mình sống viễn ly và tán thán sự viễn ly, tự mình không giao thiệp và tán thán sự không giao thiệp, tự mình siêng năng tinh tấn và tán thán sự siêng năng tinh tấn, tự mình đầy đủ giới và tán thán sự thành tựu về giới, tự mình đầy đủ định và tán thán sự thành tựu về định, tự mình đầy đủ tuệ và tán thán sự thành tựu về tuệ, tự mình đầy đủ giải thoát và tán thán sự thành tựu về giải thoát, tự mình đầy đủ tri kiến giải thoát và tán thán sự thành tựu về tri kiến giải thoát."

"Bạch Thế Tôn, khi ấy con nói với Tôn giả Mahāmoggallāna:

'Thưa Tôn giả Moggallāna, Tôn giả Mahākassapa đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Mahāmoggallāna: khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi ấy Tôn giả Mahāmoggallāna nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Sāriputta, hai vị tỳ-kheo bàn luận về Pháp. Họ hỏi nhau những câu hỏi, trả lời những câu hỏi của nhau mà không hề vấp, và câu chuyện về Pháp của họ cứ tiếp diễn.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Sāriputta.'"

"Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Quả thật, Moggallāna đã trả lời đúng cách.

Vì này Sāriputta, Moggallāna là người nói Pháp."

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, khi ấy con nói với Tôn giả Sāriputta:

'Thưa Tôn giả Sāriputta, tất cả chúng tôi đã trả lời theo cảm hứng của mình.

Nay chúng tôi hỏi Tôn giả Sāriputta:

Thưa Tôn giả Sāriputta, khu rừng sa-la Gosiṅga thật đẹp; đêm nay sáng tỏ; các cây sa-la nở hoa rộ; hương trời, tôi nghĩ vậy, đang lan tỏa.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như thế nào?'

Bạch Thế Tôn, khi ấy Tôn giả Sāriputta nói với con:

'Ở đây, thưa Tôn giả Moggallāna, vị tỳ-kheo làm chủ được tâm mình, không bị tâm chi phối.

Buổi sáng, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi chiều.

Ví như, thưa Tôn giả Moggallāna, một vị vua hay một đại thần của vua có một rương đầy những tấm vải đủ màu.

Buổi sáng, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, bộ y phục nào vị ấy muốn mặc, thì vị ấy sẽ mặc bộ y phục ấy vào buổi chiều.

Cũng vậy, thưa Tôn giả Moggallāna, vị tỳ-kheo làm chủ được tâm mình, không bị tâm chi phối.

Buổi sáng, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi chiều.

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, thưa Tôn giả Moggallāna.'"


"Lành thay, lành thay, này Moggallāna!

Quả thật, Sāriputta đã trả lời đúng cách.

Vì này Moggallāna, Sāriputta làm chủ được tâm mình, không bị tâm chi phối.

Buổi sáng, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi sáng.

Buổi trưa, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi trưa.

Buổi chiều, thiền chứng nào vị ấy muốn an trú, thì vị ấy an trú trong thiền chứng ấy vào buổi chiều."

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Sāriputta bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, ai đã nói hay?"

"Này Sāriputta, tất cả các ông đều đã nói hay, mỗi người theo cách của mình.

[Chú thích: Đức Thế Tôn không chỉ khen những phẩm chất tốt đẹp của các vị ấy mà còn khen việc họ biết quý những phẩm chất tốt đẹp của chính mình. Đó không phải là ngã mạn mà là một hình thức hoan hỷ.]

Nhưng các ông hãy nghe cả Ta nữa: một vị tỳ-kheo như thế nào sẽ làm khu rừng sa-la Gosiṅga thêm rạng rỡ.

Ở đây, này Sāriputta, vị tỳ-kheo sau bữa ăn, khi đã đi khất thực trở về, ngồi xuống, xếp chân lại, dựng thân thẳng, đặt chánh niệm trước mặt, nghĩ rằng:

[Chú thích: Trong khi các vị đệ tử nói về kết quả, Đức Thế Tôn nói về nguyên nhân. Một chỗ tương tự là Kinh Hy Hữu và Kỳ Diệu (MN 123), nơi Ngài cũng đưa câu chuyện trở về việc tu tập thiền định.]

'Ta sẽ không phá thế ngồi này cho đến khi tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn nắm giữ.'

Khu rừng sa-la Gosiṅga sẽ rạng rỡ với một vị tỳ-kheo như vậy, này Sāriputta."

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các vị ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Mahāgosiṅga kết thúc, bài thứ hai.

[Chú thích của người dịch: Bài thứ hai là vị trí của bài này trong phẩm, không phải số thứ tự 32 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →