Trung Bộ Kinh · bài 46/152
Đại Kinh Thọ Trì Pháp
Mahādhammasamādāna Sutta — bài kinh về cách thọ trì pháp
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Thọ Trì Pháp (Mahādhammasamādāna Sutta) là bài kinh thứ 46 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài giảng diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), nơi Đức Thế Tôn dạy cho các tỳ-kheo — những người xuất gia sống bằng khất thực, tức đi xin ăn để có thời gian tu tập. Cả bài kinh chỉ có hai nhân vật: Đức Thế Tôn và các tỳ-kheo. Không có vua chúa, không có cuộc tranh luận với giáo phái khác, không có phép lạ.
Câu hỏi mở đầu rất đời thường: ai cũng muốn điều dễ chịu và muốn điều khó chịu biến mất. Nhưng ai cũng từng thấy chuyện ngược lại — càng muốn thì càng không được, càng tránh thì càng gặp. Đức Thế Tôn nói phần lớn chúng sinh đều như vậy, rồi hỏi các tỳ-kheo nguyên nhân là gì. Các vị thưa rằng mọi điều đều lấy Ngài làm gốc, xin Ngài giảng cho; Ngài bèn trả lời: vì người ta không biết việc nào nên làm và việc nào không nên làm.
"Thọ trì pháp" nghĩa là nhận lấy một lối thực hành rồi theo nó lâu dài, ngày này qua ngày khác. Bài kinh chia lối thực hành ấy thành bốn kiểu, dựa trên hai câu hỏi: làm thì hôm nay cảm thấy thế nào, và về sau nó dẫn đến đâu. Kiểu thứ nhất khổ ngay và về sau cũng cho quả khổ. Kiểu thứ hai vui ngay nhưng về sau cho quả khổ. Kiểu thứ ba khổ ngay nhưng về sau cho quả lạc. Kiểu thứ tư vui ngay và về sau cũng cho quả lạc.
Để làm rõ bốn kiểu ấy, bài kinh dùng bốn hình ảnh dễ nhớ. Quả mướp đắng tẩm thuốc độc: khó uống, uống vào thì chết. Chén nước ngọt trộn thuốc độc: uống rất ngon, nhưng rồi cũng chết. Nước tiểu thối trộn với thuốc, đưa cho người bệnh vàng da: khó uống, nhưng uống xong thì khỏi bệnh. Sữa chua, mật ong, bơ và đường mía đưa cho người kiết lỵ ra máu: vừa ngon vừa lành bệnh. Điểm chung của bốn ví dụ là phải nếm mới biết vị, nhưng phải suy xét mới biết kết quả về sau. Người khôn và người dại khác nhau đúng ở chỗ có suy xét trước khi uống hay không.
Kết thúc, kiểu thọ trì pháp thứ tư được ví như mặt trời cuối mùa mưa, khi mây đã tan, vươn lên giữa trời và xua hết tối tăm. Bài kinh dừng ở mức hạnh phúc và khổ đau trong vòng sinh tử, chưa nói tới giác ngộ; nó tập trung vào một câu hỏi rất thực tế: việc tôi đang làm sẽ đưa tôi tới đâu? Với người đọc hôm nay, đó là một cách tự kiểm tra trước mọi quyết định — cảm giác trước mắt ra sao, và quả về sau sẽ thế nào.
[Chú thích của người dịch: Mahā là "lớn", dhamma là "pháp", samādāna là "nhận lấy, thọ trì". Bài này là bản dài; bài 45 cùng đề tài là bản ngắn.]
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Đức Thế Tôn bàn kỹ hơn về đề tài này trong Kinh Nên Thân Cận và Không Nên Thân Cận (MN 114).]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, phần lớn chúng sinh đều có ước muốn như vầy, có khao khát như vầy, có chủ ý như vầy:
"Ôi, ước gì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng thì tăng thêm!"
Nhưng này các tỳ-kheo, với những chúng sinh ấy, dù họ ước muốn, khao khát, chủ ý như vậy, những điều không ưa, không thích, không vừa lòng lại tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng lại giảm bớt.
Này các tỳ-kheo, vậy các ông thấy nguyên nhân của việc ấy là gì?
"Bạch Thế Tôn, các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm gốc, lấy Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn tự làm sáng tỏ ý nghĩa của lời ấy; sau khi nghe Thế Tôn, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ."
"Vậy thì, này các tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không hiểu biết Pháp của các bậc thánh, không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không hiểu biết Pháp của những bậc chân nhân, không được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân,
kẻ ấy không biết những pháp nên thực hành và những pháp không nên thực hành, không biết những pháp nên gần gũi và những pháp không nên gần gũi.
Vì không biết những pháp nên thực hành và những pháp không nên thực hành, không biết những pháp nên gần gũi và những pháp không nên gần gũi, kẻ ấy thực hành những pháp không nên thực hành mà không thực hành những pháp nên thực hành, gần gũi những pháp không nên gần gũi mà không gần gũi những pháp nên gần gũi.
Khi kẻ ấy thực hành những pháp không nên thực hành, không thực hành những pháp nên thực hành, gần gũi những pháp không nên gần gũi, không gần gũi những pháp nên gần gũi, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng giảm bớt.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với kẻ không hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Nhưng này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử có nghe Pháp, được thấy các bậc thánh, hiểu biết Pháp của các bậc thánh, được khéo huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; được thấy những bậc chân nhân, hiểu biết Pháp của những bậc chân nhân, được khéo huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân,
vị ấy biết những pháp nên thực hành và những pháp không nên thực hành, biết những pháp nên gần gũi và những pháp không nên gần gũi.
Vì biết những pháp nên thực hành và những pháp không nên thực hành, biết những pháp nên gần gũi và những pháp không nên gần gũi, vị ấy không thực hành những pháp không nên thực hành mà thực hành những pháp nên thực hành, không gần gũi những pháp không nên gần gũi mà gần gũi những pháp nên gần gũi.
Khi vị ấy không thực hành những pháp không nên thực hành, thực hành những pháp nên thực hành, không gần gũi những pháp không nên gần gũi, gần gũi những pháp nên gần gũi, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng tăng thêm.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với người hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, có bốn cách thọ trì pháp.
[Chú thích của người dịch: "Thọ trì pháp" ở đây là nhận lấy một lối thực hành rồi theo nó lâu dài; chữ samādāna nghĩa là nhận lấy, đảm nhận.]
Bốn là những gì?
Này các tỳ-kheo, có cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ;
này các tỳ-kheo, có cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ;
này các tỳ-kheo, có cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc;
này các tỳ-kheo, có cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ, kẻ không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ."
Vì không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ, kẻ ấy thực hành nó, không tránh xa nó.
Khi kẻ ấy thực hành nó, không tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng giảm bớt.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với kẻ không hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ, kẻ không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ."
Vì không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ, kẻ ấy thực hành nó, không tránh xa nó.
Khi kẻ ấy thực hành nó, không tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng giảm bớt.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với kẻ không hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc, kẻ không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc."
Vì không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ, kẻ ấy không thực hành nó, tránh xa nó.
[Chú thích của người dịch: Kiểu thọ trì pháp này khổ ngay nhưng về sau cho quả lạc, nên tránh nó mới là điều bất lợi.]
Khi kẻ ấy không thực hành nó, tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng giảm bớt.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với kẻ không hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc, kẻ không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc."
Vì không hiểu biết, bị vô minh chi phối, không như thật biết rõ, kẻ ấy không thực hành nó, tránh xa nó.
Khi kẻ ấy không thực hành nó, tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng tăng thêm, còn những điều ưa, thích, vừa lòng giảm bớt.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với kẻ không hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ, người hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ."
Vì hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ, vị ấy không thực hành nó, tránh xa nó.
Khi vị ấy không thực hành nó, tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng tăng thêm.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với người hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ, người hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ."
Vì hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ, vị ấy không thực hành nó, tránh xa nó.
Khi vị ấy không thực hành nó, tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng tăng thêm.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với người hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc, người hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc."
Vì hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ, vị ấy thực hành nó, không tránh xa nó.
Khi vị ấy thực hành nó, không tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng tăng thêm.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với người hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, đối với cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc, người hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ:
"Đây là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc."
Vì hiểu biết, đã đạt đến minh, như thật biết rõ, vị ấy thực hành nó, không tránh xa nó.
Khi vị ấy thực hành nó, không tránh xa nó, thì những điều không ưa, không thích, không vừa lòng giảm bớt, còn những điều ưa, thích, vừa lòng tăng thêm.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì với người hiểu biết thì sự việc vốn là như vậy.
Này các tỳ-kheo, thế nào là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ?
Này các tỳ-kheo, ở đây có người, ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn sát hại sinh mạng; do nhân sát hại sinh mạng, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn trộm cắp; do nhân trộm cắp, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn tà hạnh trong các dục; do nhân tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn nói dối; do nhân nói dối, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn nói lời chia rẽ; do nhân nói lời chia rẽ, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn nói lời thô ác; do nhân nói lời thô ác, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn nói lời phù phiếm; do nhân nói lời phù phiếm, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn tham lam; do nhân tham lam, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn có tâm sân hận; do nhân sân hận, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn có tà kiến; do nhân tà kiến, người ấy cảm thọ khổ và ưu.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ.
Này các tỳ-kheo, thế nào là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ?
Này các tỳ-kheo, ở đây có người, ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn sát hại sinh mạng; do nhân sát hại sinh mạng, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn trộm cắp; do nhân trộm cắp, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn tà hạnh trong các dục; do nhân tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn nói dối; do nhân nói dối, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn nói lời chia rẽ; do nhân nói lời chia rẽ, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn nói lời thô ác; do nhân nói lời thô ác, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn nói lời phù phiếm; do nhân nói lời phù phiếm, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn tham lam; do nhân tham lam, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn có tâm sân hận; do nhân sân hận, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn có tà kiến; do nhân tà kiến, người ấy cảm thọ lạc và hỷ.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ.
Này các tỳ-kheo, thế nào là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc?
Này các tỳ-kheo, ở đây có người, ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh sát hại sinh mạng; do nhân kiêng tránh sát hại sinh mạng, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh trộm cắp; do nhân kiêng tránh trộm cắp, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh tà hạnh trong các dục; do nhân kiêng tránh tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh nói dối; do nhân kiêng tránh nói dối, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh nói lời chia rẽ; do nhân kiêng tránh nói lời chia rẽ, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh nói lời thô ác; do nhân kiêng tránh nói lời thô ác, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn kiêng tránh nói lời phù phiếm; do nhân kiêng tránh nói lời phù phiếm, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn không tham lam; do nhân không tham lam, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn không có tâm sân hận; do nhân không sân hận, người ấy cảm thọ khổ và ưu;
ngay trong khi đang khổ, đang ưu, vẫn có chánh kiến; do nhân chánh kiến, người ấy cảm thọ khổ và ưu.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi lành, cõi trời.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc.
Này các tỳ-kheo, thế nào là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc?
Này các tỳ-kheo, ở đây có người, ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh sát hại sinh mạng; do nhân kiêng tránh sát hại sinh mạng, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh trộm cắp; do nhân kiêng tránh trộm cắp, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh tà hạnh trong các dục; do nhân kiêng tránh tà hạnh trong các dục, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh nói dối; do nhân kiêng tránh nói dối, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh nói lời chia rẽ; do nhân kiêng tránh nói lời chia rẽ, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh nói lời thô ác; do nhân kiêng tránh nói lời thô ác, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn kiêng tránh nói lời phù phiếm; do nhân kiêng tránh nói lời phù phiếm, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn không tham lam; do nhân không tham lam, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn không có tâm sân hận; do nhân không sân hận, người ấy cảm thọ lạc và hỷ;
ngay trong khi đang lạc, đang hỷ, vẫn có chánh kiến; do nhân chánh kiến, người ấy cảm thọ lạc và hỷ.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào cõi lành, cõi trời.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc.
Này các tỳ-kheo, đó là bốn cách thọ trì pháp.
Này các tỳ-kheo, ví như một quả mướp đắng tẩm thuốc độc.
Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn vui sướng, ghê sợ khổ đau.
Người ta nói với anh ta như vầy:
"Này anh kia, đây là quả mướp đắng tẩm thuốc độc,
nếu anh muốn thì uống đi.
Khi anh uống, nó sẽ chẳng vừa ý về màu, về mùi, về vị; uống xong, anh sẽ gặp cái chết hoặc nỗi khổ ngang với cái chết."
Anh ta không suy xét, không chịu buông nó xuống, mà uống.
Khi anh ta uống, nó chẳng vừa ý về màu, về mùi, về vị; uống xong, anh ta gặp cái chết hoặc nỗi khổ ngang với cái chết.
Này các tỳ-kheo, Ta nói cách thọ trì pháp này giống như ví dụ ấy, tức là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại và về sau cho quả khổ.
Này các tỳ-kheo, ví như một chén đồng đựng nước uống, đủ màu, đủ mùi, đủ vị.
Nhưng chén ấy lại bị trộn thuốc độc.
Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn vui sướng, ghê sợ khổ đau.
Người ta nói với anh ta như vầy:
"Này anh kia, chén đồng đựng nước uống này đủ màu, đủ mùi, đủ vị.
Nhưng nó đã bị trộn thuốc độc,
nếu anh muốn thì uống đi.
Khi anh uống, nó sẽ vừa ý về màu, về mùi, về vị, nhưng uống xong anh sẽ gặp cái chết hoặc nỗi khổ ngang với cái chết."
Anh ta không suy xét, không chịu buông nó xuống, mà uống.
Khi anh ta uống, nó vừa ý về màu, về mùi, về vị, nhưng uống xong anh ta gặp cái chết hoặc nỗi khổ ngang với cái chết.
Này các tỳ-kheo, Ta nói cách thọ trì pháp này giống như ví dụ ấy, tức là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại nhưng về sau cho quả khổ.
Này các tỳ-kheo, ví như nước tiểu thối trộn với nhiều loại thuốc.
[Chú thích: Nước tiểu thối là loại thuốc tệ nhất, chỉ dùng khi không có gì tốt hơn. Luật tạng cho phép dùng nó như thuốc xổ khi bị rắn cắn, và dùng quả chiêu liêu ngâm nước tiểu bò để chữa bệnh vàng da. Nghiên cứu ngày nay cho thấy nước tiểu chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh và không có giá trị chữa bệnh.]
Rồi có người mắc bệnh vàng da đến.
Người ta nói với anh ta như vầy:
"Này anh kia, đây là nước tiểu thối trộn với nhiều loại thuốc, nếu anh muốn thì uống đi.
Khi anh uống, nó sẽ chẳng vừa ý về màu, về mùi, về vị, nhưng uống xong anh sẽ được an lạc."
Anh ta suy xét, không chịu buông nó xuống, mà uống.
Khi anh ta uống, nó chẳng vừa ý về màu, về mùi, về vị, nhưng uống xong anh ta được an lạc.
Này các tỳ-kheo, Ta nói cách thọ trì pháp này giống như ví dụ ấy, tức là cách thọ trì pháp khổ ngay hiện tại nhưng về sau cho quả lạc.
Này các tỳ-kheo, ví như sữa chua, mật ong, bơ và đường mía trộn lẫn với nhau.
Rồi có người mắc bệnh kiết lỵ ra máu đến.
Người ta nói với anh ta như vầy:
"Này anh kia, đây là sữa chua, mật ong, bơ và đường mía trộn lẫn với nhau, nếu anh muốn thì uống đi.
Khi anh uống, nó sẽ vừa ý về màu, về mùi, về vị, và uống xong anh sẽ được an lạc."
Anh ta suy xét, không chịu buông nó xuống, mà uống.
Khi anh ta uống, nó vừa ý về màu, về mùi, về vị, và uống xong anh ta được an lạc.
Này các tỳ-kheo, Ta nói cách thọ trì pháp này giống như ví dụ ấy, tức là cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc.
Này các tỳ-kheo, ví như vào tháng cuối của mùa mưa, trong tiết thu, khi bầu trời đã quang đãng, không còn mây, mặt trời vươn lên giữa hư không, xua tan mọi tối tăm trong không gian, rồi chiếu sáng, tỏa nắng và rực rỡ.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, cách thọ trì pháp lạc ngay hiện tại và về sau cho quả lạc này xua tan mọi học thuyết của những sa-môn và bà-la-môn khác, rồi chiếu sáng, tỏa nắng và rực rỡ.
[Chú thích: Bài này cùng với bài 45 chỉ trả lời câu hỏi lối thực hành nào đưa đến hạnh phúc về sau, chứ chưa nói đến giác ngộ. Đáng ngạc nhiên là một giáo lý khiêm tốn như vậy lại được khen ngợi mạnh mẽ đến thế. Các bản Hán tương ứng mô tả lối thực hành đưa đến Bất hoàn hay Niết-bàn, và không có đoạn khen ngợi này.]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Đại Kinh Thọ Trì Pháp, bài thứ sáu, đến đây kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.